THƯ MỜI GỌI
Thư gửi các nhà cai trị
Sau khi từ Hudaybiya trở về, Giáo chủ Nabi al-muhtaram (sall-Allahu ’alaihi wa sallam) chúng ta muốn Islam lan rộng khắp thế giới và mọi người được cứu khỏi sự đọa đày của Địa ngục và có được chân hạnh phúc. Bởi vì Ngài đã được phái đến như một sự thương xót cho khắp vũ trụ. Vì thế, Ngài đã nghĩ đến việc phái các sứ giả đến gặp các nhà cai trị trong khu vực và mời họ theo Islam.
Cuối tháng Dhu'l-hijja năm Hegira thứ sáu và đầu tháng Muharram thứ bảy, Ngài đã phái Amr ibn Umayya (radiy-Allahu 'anh) làm sứ giả đến gặp người cai trị Abyssinia, Dihya al-Kalbi (radiy-Allahu 'anh) gặp người cai trị Đế chế La Mã, Khatib ibn Abi Baltaa (radiy-Allahu 'anh) gặp người cai trị Ai Cập. Ngoài ra, với cùng nhiệm vụ, Ngài đã phái Abdullah ibn Huzafa (radiy-Allahu 'anh) đến gặp người cai trị Iran, Shuja' ibn Wahb (radiy-Allahu 'anh) đến Ghassan, Salit ibn Amr (radiy-Allahu 'anh) đến Yamama và Ala ibn Hadrami (radiy-Allahu 'anh) đến gặp Munzir ibn Savi, người cai quản Bahrain.1
Những sứ giả này là những người xuất chúng nhất trong số Ashab al-kiram. Họ là những người có ngoại hình và lời nói đẹp nhất. Những lá thư được viết riêng cho từng người cai trị, mời gọi họ đến với Islam. Vị Tiên tri kính yêu của chúng ta đã niêm phong những lá thư bằng con dấu trên chiếc nhẫn bạc của Ngài được viết thành ba dòng từ dưới lên trên, “Muhammad, Rasul, Allah”. Như một phép màu của Giáo chủ, Tiên tri chúng ta, các sứ giả được phái đi gặp các nhà cai trị đã học được ngôn ngữ ở các quốc gia họ sẽ đến sau khi thức dậy vào buổi sáng.2
Thư gởi Negus Ashama
Hadrat Amr ibn Umayya, người sẽ đến Abyssinia, cũng sẽ yêu cầu Negus Ashama gửi thư cho Ashab al-kiram, những người trước đó đã di cư đến đó đến Medina. Giáo chủ Rasulullah của chúng ta đã gửi hai lá thư cho Negus.
Amr ibn Umayya nhanh chóng đến Abyssinia và gặp Negus Ashama. Trước hết, ông trình lá thư. Negus từ ngai vàng bước xuống, cầm lá thư với sự kính yêu vô cùng. Ông hôn nó, lau nó trên mặt và mắt, mở nó ra và đọc to:
“Bismillahirrahmanirrahim!
Từ Rasul của Allahu ta’ala, Muhammad ‘alaihis-salam, đến người cai quản Abyssinia, Negus Ashama!
Cầu mong hòa bình đến với những ai tuân theo sự chỉ dẫn chân chính!
Hỡi Người cai trị! Ta cầu mong ông được bình an, và ta ngợi ca Allahu ta’ala vì những phước lành của Người dành cho ông. Không có thượng đế nào ngoài Người. Người là AlMalik (Đấng duy nhất kiểm soát toàn bộ vũ trụ, và là Đấng thống trị và chủ quyền vĩnh cửu). Người là Al-Quddus (Đấng không có bất kỳ khuyết điểm nào và xứng đáng được ca ngợi). Người là As-Salam (Đấng bảo vệ tôi tớ của mình khỏi mọi nguy hiểm và là Đấng chào đón những tôi tớ được phước lành của Người vào Thiên đàng). Người là Al-Mu’min (Đấng ban sự an toàn và thanh thản và là Đấng ban ánh sáng của đức tin). Người là Al-Muhaymin (Đấng trông coi và bảo vệ mọi thứ và là Đấng biết mọi chúng sinh làm gì).
Một trong những bức thư Rasulullah (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) gửi các vị vua
Cụm từ “Muhammad, Rasul, Allah” được viết thành ba dòng từ dưới lên trên trên con dấu ở góc dưới bên trái bức thư.
Mỗi bức thư sẽ được đóng dưới cùng bằng con dấu này, khắc trên chiếc nhẫn bạc.
Rasulullah (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) sử dụng chiếc nhẫn đó làm con dấu của đế chế cho đến khi Ngài băng hà.
Sau đó, trong thời kỳ Khalifa, nó đã trở thành con dấu của Hadrat Abu Bakr, Hadrat ‘Umar và cuối cùng là Hadrat ‘Uthman. Hadrat ‘Uthman chỉ dùng nó trong vòng sáu tháng. Một hôm, chiếc nhẫn vuột khỏi ngón tay của Khalifa và rớt xuống Giếng Aris. Mặc dù đã cất công tìm kiếm vẫn không tìm thấy.
“Tôi chứng rằng Ngài là tiên tri mà dân Do Thái và dân Cơ Đốc, những người thông thạo kinh sách, đã chờ đợi sự xuất hiện, và Ngài là tiên tri mà các tiên tri trước đó đã loan báo.”
Negus Ashama (radiy-Allahu
’anh)
Tôi làm chứng rằng Isa ('alaihis-salam) là linh hồn và lời của Allahu ta'ala mà Người đã đặt vào Maryam (Mary), một người trong sạch và trinh khiết và tránh xa mọi cuộc sống thế gian. Vì vậy, bà đã mang thai Isa. Cũng giống như Allahu ta'ala đã tạo ra Adam bằng quyền năng của mình, Người cũng đã tạo ra Isa.
Hỡi Nhà cai trị! Ta gọi mời ông tin vào Allahu ta’ala, Đấng không có đối tác, hãy tôn thờ Người và đi theo ta và tin vào những gì Allahu ta’ala đã gửi đến cho ta. Bởi vì ta là Rasul của Allahu ta’ala, người có nhiệm vụ truyền đạt những điều này.
Bây giờ, ta muốn thông báo cho ông và đưa ra lời khuyên sẽ đảm bảo hạnh phúc của ông trên thế giới này và đời sau. Hãy đón nhận lời khuyên của ta! Salam (bình yên) sẽ đến với những ai đã đạt được sự hướng dẫn và chánh đạo.”
Nhà cai trị Ashama, người đã lắng nghe lá thư của Giáo chủ Rasul al-akram (sall-Allahu ’alaihi wa sallam) của chúng ta với lòng kính trọng và khiêm nhường, ngay lập tức trở thành một người Muslim bằng cách đọc câu Kalima ash-shahada, “Ash-hadu an la ilaha illallah wa ash-hadu anna Muhammadan abduhu wa rasuluh.” Sau đó, ông nói, “Tôi thề rằng Ngài là nhà tiên tri mà sự xuất hiện của Ngài đã được người Do Thái và người Cơ đốc giáo, những người hiểu biết kinh sách, chờ đợi và sự xuất hiện của Ngài đã được các nhà tiên tri trước đây báo trước. Nếu tôi có cơ hội đến và được vinh danh khi được phục vụ Ngài!” Một cách kính trọng, ông đặt lá thư vào một chiếc hộp đẹp và nói, “Nếu những lá thư này vẫn còn ở đây, thì may mắn và phước lộc sẽ không rời Abyssinia.”3
Negus Ashama đọc các chỉ thị được viết trong lá thư thứ hai với sự tôn trọng và gả Umm Habiba mẹ của chúng ta cho Rasul al-akram, theo amr an-Nabawi (lệnh của Nhà tiên tri). Sau đó, sau khi tiếp đón Umm Habiba, mẹ của chúng ta và các Ashab al-kiram ở đó trong hai tháng, ông đưa họ lên tàu và gửi đến Medina cùng với nhiều quà tặng. Trong lá thư, ông tuyên bố rằng ông đã có đức tin.
Bức thư gửi Hoàng đế La Mã Heraclius
Hadrat Dihya al-Kalbi được giao nhiệm vụ mời Hoàng đế La Mã theo Islam. Ông sẽ trao thư cho Harith, người cai trị Gassan ở Busra, và gửi nó cho Heraclius, Hoàng đế La Mã.
Hadrat Dihya, người đã kính cẩn nhận bức thư mời của Giáo chủ, Tiên tri (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) của chúng ta, nhanh chóng đến Busra. Ông đã gặp Harith và kể cho ông ấy nghe về tình hình. Harith đã cử Adiy ibn Khatam, người vẫn chưa trở thành Muslim, cùng với Dihya thành bộ đôi và cử họ đến gặp Heraclius đang ở Quds (Jerusalem) vào lúc đó. Hai người họ đã cùng nhau đến Quds và cố gắng gặp hoàng đế. Những người của hoàng đế nói với Hadrat Dihya, “Khi ông đến trước mặt hoàng đế, ông sẽ cúi đầu bước đi, và khi ông đến gần ông ấy, ông sẽ phủ phục trước ông ấy. Trừ khi ông ấy cho phép ông đứng dậy, nếu không ông sẽ không bao giờ ngẩng đầu lên.”
Lời này đã xúc phạm Hadrat Dihya, ông nói với họ, “Chúng tôi, những người Muslim, ngoài Allahu ta'ala, không quỳ trước bất kỳ ai. Hơn nữa, việc quỳ trước người khác là trái với bản chất con người.” Sau đó, người của hoàng đế nói, “Vậy thì hoàng đế sẽ không thể chấp nhận lá thư của các người và sẽ đuổi các người.” Hadrat Dihya trả lời, “Tiên tri của chúng tôi Muhammad 'alaihis-salam không cho bất kỳ ai cúi đầu trước Ngài, chứ đừng nói đến việc quỳ trước Ngài. Nếu ai muốn nói chuyện với Ngài, ngay cả khi người ấy là tôi tớ, Ngài vẫn quan tâm đến họ. Ngài chấp nhận họ đến trước mặt Ngài, lắng nghe những yêu cầu của họ, giải tỏa những rắc rối và làm họ hài lòng. Vì lý do này, tất cả các thần dân của Ngài đều được tự do và rất vinh dự.”
Có một người nghe vậy bèn nói, “Vì ông không chịu quỳ trước hoàng đế, tôi chỉ cho ông một cách để ông có thể hoàn thành công việc của mình. Có một nơi hoàng đế nghỉ ngơi trước cung điện. Ông ấy ra sân này và đi bộ xung quanh vào mỗi buổi chiều. Có một cái bục. Nếu có bất kỳ giấy tờ nào trên đó, ông ấy sẽ lấy và đọc nó trước tiên, sau đó nghỉ ngơi. Vậy, ông hãy đi và đặt lá thư lên bục đó và đợi ở ngoài. Khi ngài ấy nhìn thấy lá thư, ngài sẽ cho gọi ông. Thế thì, ông sẽ hoàn thành sứ mệnh của mình.”
“Wallahi, Ngài là Vị tiên tri mà Musa và Isa (‘alaihimas-salam) đã loan tin mừng. Chúng tôi đang chờ đợi Ngài đến.”
Giám mục của Quds
Ngay lập tức, Hadrat Dihya để lại lá thư tại nơi đã được chỉ định. Heraclius cầm lấy lá thư và yêu cầu một người dịch biết tiếng Ả Rập. Người dịch bắt đầu đọc lá thư của Rasulullah của chúng ta. Ở trên cùng của lá thư, viết: “Bismillahirrahmanirrahim! Từ Rasul của Allahu ta’ala, Muhammad (‘alaihis-sallam), gửi đến thủ lĩnh của đế chế La Mã, Heraclius.” Yennak, con trai của anh trai Heraclius, rất tức giận khi đọc cách lá thư bắt đầu và đã đấm mạnh vào ngực người dịch. Người dịch ngã xuống đất với sức mạnh của cú đấm và lá thư quý giá rơi khỏi tay ông. Khi Heraclius hỏi Yennak, “Tại sao ngươi lại làm như vậy?” ông ta đáp, “Ngài không thấy lá thư sao? Ngài ấy bắt đầu lá thư với tên của Ngài ấy trước tên của ngài và không nói ngài là người cai trị, mà chỉ nói ‘gửi Heraclius, thủ lĩnh của đế chế La Mã’. Tại sao Ngài ấy không viết ‘người cai trị của La Mã’ và bắt đầu với tên ngài trước? Lá thư này hôm nay sẽ không được đọc ra đâu.”
Nghe vậy, Heraclius nói, “Ta thề, ngươi hoặc là rất ngu ngốc hoặc là hoàn toàn mất trí. Ta không biết ngươi là một người như vậy. Ngươi muốn xé nát lá thư này, thậm chí trước khi ta nhìn thấy nội dung của nó sao? Ta thề bằng mạng sống của mình, nếu Ông ấy là Sứ giả của Allah như Ông ấy nói, Ông ấy có quyền viết tên mình trước tên của ta trong lá thư và gọi ta là thủ lĩnh của người La Mã. Ta chỉ là thủ lĩnh của họ, không phải là người cai trị của họ.” Ông đuổi Yennak đi cho khuất mắt mình.
Sau đó, ông gọi một vị giám mục, người đứng đầu và hiểu biết nhất của những người Thiên chúa giáo và cũng là cố vấn của Heraclius. Ông bảo người này đọc bức thư. Trong phần sau của bức thư, có viết, “Bình an cho những ai tuân theo sự hướng dẫn của Allahu ta'ala và đạt được con đường chân chính!” Sau đó, “(Hỡi thủ lĩnh của người La Mã!) Ta mời ông đến với Islam. Hãy chấp nhận Islam để ông sẽ được cứu rỗi. Hãy trở thành một người Muslim để Allahu ta'ala sẽ ban thưởng cho ông gấp đôi. Nếu ông quay lưng lại với nó, tội lỗi của tất cả những người Thiên chúa giáo sẽ đổ lên đầu ông. ‘(Rasul của tôi!) Hãy nói: Hỡi (người Do Thái và người Thiên chúa giáo) những người hiểu biết kinh sách, hãy đến với lời chung giữa chúng ta. Nghĩa là, chúng ta không tôn thờ bất cứ thứ gì khác ngoài Allahu ta'ala và không xem bất kỳ ai đối tác của Người. Chúng ta không chối bỏ Allahu ta'ala và nhận bất kỳ ai trong số chúng ta là đấng sáng tạo. Nếu họ từ chối những lời này, thì hãy nói, ‘Hãy làm chứng. Chúng tôi là những người Muslim chân chính.’”4
Trong khi bức thư của Giáo chủ Rasul al-akram (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) của chúng ta đang được đọc, trên trán Heraclius mồ hôi chảy dài. Khi bức thư kết thúc, ông nói, “Ta chưa bao giờ thấy một lá thư nào bắt đầu bằng ‘Bismillahirrahmanirrahim’ kể từ thời Sulayman ‘alaihis-salam.” Khi Heraclius hỏi ý kiến giám mục về vấn đề này, ông trả lời, “Wallahi, Ngài ấy là Vị tiên tri mà Musa và Isa (‘alaihimas-salam) đã loan tin mừng. Chúng tôi đang chờ đợi Ngài ấy đến.”
Heraclius hỏi, “Ông khuyên ta nên làm gì về vấn đề này, ông nghĩ điều gì là phù hợp?” Giám mục trả lời, “Tôi thấy việc ngài nghe theo Ngài ấy là phù hợp.” Heraclius nói, “Ta biết rất rõ những gì ông nói. Tuy nhiên, ta không có khả năng tuân theo Ngài ấy và theo Islam. Bởi vì hai điều, triều đại của ta sẽ kết thúc và họ sẽ giết ta.” Sau đó, ông gọi Hadrat Dihya và Adi ibn Khatam. Adi nói, “Hỡi nhà cai trị! cạnh chỗ tôi có một người Ả Rập có gia súc và lạc đà, ông ấy nói về một sự kiện đáng kinh ngạc ở đất nước của ông ấy.” Khi Heraclius hỏi, “Sự kiện đó là gì vậy?” Hadrat Dihya nói, “Có một người đã xuất hiện trong chúng ta. Người ấy tuyên bố rằng Ngài là một vị tiên tri. Có người theo Ngài; có người phản đối Ngài. Xảy ra những xung đột giữa chúng tôi, những người có đức tin và những người vô tín.”
Sau đó, Heraclius bắt đầu tìm hiểu về Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta. Ông lệnh cho thống đốc Damascus tìm một người có dòng dõi với Giáo chủ Rasul al-akram. Đồng thời, ông viết một lá thư cho một học giả ở Rome, bạn của ông, biết tiếng Do Thái, và hỏi về vấn đề này. Người bạn của ông ở Rome trả lời thư nói rằng người mà ông đã hỏi là Vị tiên tri của thời đại cuối. Thống đốc Damascus gặp một đoàn thương nhân người Quraysh. Trong số họ có một thủ lĩnh của Quraysh, Abu Sufyan, người này vẫn chưa phải là một Muslim.
Abu Sufyan thuật lại: Khi chúng tôi ở Gaza, thống đốc Damascus của Heraclius đến như thể ông ta sẽ tấn công chúng tôi. Ông ta hỏi, “Các người có phải là người của vị này ở Hijaz không?” Chúng tôi trả lời, “Đúng.” Ông ta nói, “Đi nào, các người sẽ đi gặp hoàng đế cùng chúng tôi!” Ông ta đưa Abu Sufyan và các bạn đồng hành của ông ta đến Damascus, trước Heraclius. Trong khi đó, Heraclius đang ở Bayt Al-Maqdis của Quds. Ông ta đang ngồi với thượng thư của mình và đội vương miện. Heraclius đã tiếp Abu Sufyan và khoảng ba mươi người Mecca khác cùng ông ta ở đây.
Ông gọi một phiên dịch và hỏi họ, “Ai trong số các ngươi có họ gần nhất với người tự nhận là một nhà tiên tri?” Abu Sufyan trả lời, “Tôi là người gần nhất với Ngài ấy về dòng dõi.” Heraclius muốn Abu Sufyan lại gần mình hơn và bảo những người khác lui ra sau Abu Sufyan. Khi Heraclius hỏi, “Quan hệ họ hàng của các người là gì?”, ông ấy nói, “Ngài ấy là con trai của chú tôi.” (Ông nội của Abu Sufyan là Umayya. Ông nội của Rasulullah là Abdulmuttalib. Ông nội của họ là anh em họ. Ông ta nói, “Ngài ấy là con trai của chú tôi” theo nghĩa đó. Dòng dõi của họ cùng chung cụ tổ, Abd al-Manaf.) Mặc dù ông nội của Abu Sufyan là Umayya. Lúc đầu Sufyan đã nói dối, nhưng ông ta sợ lời đe dọa của người cai trị và không thể nói dối.
Sau đó, cuộc trò chuyện sau đây diễn ra giữa họ. Heraclius:
- Dòng dõi của người nói rằng Ngài là một vị tiên tri là gì?
- Ngài là người cao quý nhất trong thời đại của chúng ta. Ngài là người nổi bật nhất trong chúng ta về dòng dõi.
- Có ai trong số các ngươi đã tuyên bố là tiên tri trước Ngài không?
- Không, không có.
- Có nhà cai trị nào trong số tổ tiên của Ngài không?
- Không.
- Những người cao quý hay những người nghèo và yếu đuối có đi theo Ngài không?
- Đi theo Ngài là những người nghèo, người cô thế, người trẻ và phụ nữ. Không nhiều những người lớn tuổi và những trưởng lão đi theo Ngài.
- Số lượng tín đồ của Ngài đang tăng hay giảm?
- Đang tăng
- Có ai sau khi gia nhập tôn giáo của Ngài, đã quay lưng lại với sự không tán thành hoặc tức giận không?
- Không có.
- Trước khi Ngài nói Ngài là một nhà tiên tri, Ngài có bao giờ nói dối không?
- Không.
- Nhà tiên tri đó có bao giờ phá vỡ lời hứa hay không thực hiện lời hứa của Ngài không?
- Không, Ngài không làm vậy. Tuy nhiên, hiện tại chúng tôi đã lập một hiệp ước với Ngài ngừng chiến đấu một thời gian. Chúng tôi không biết Ngài làm gì trong thời gian này.
- Ngài bảo các ngươi làm gì?
- Ngài bảo chúng tôi chỉ thờ phượng Allah, Đấng duy nhất là Thần, và không được gán đối tác với Ngài. Ngài cấm chúng tôi thờ phượng những thứ (tượng thần) mà tổ tiên chúng tôi đã thờ. Ngài ra lệnh cho chúng tôi cầu nguyện, sống trung thực, giúp đỡ người nghèo, tránh xa những điều bị cấm, giữ lời hứa, không chiếm đoạt tài sản được ủy thác và thăm nom người thân.
“Không còn nghi ngờ gì nữa, Ngài chính là nhà tiên tri của Thời đại Cuối cùng, người đã được Hadrat Musa và Hadrat Isa báo trước về sự xuất hiện của Ngài.”
Linh mục Safatir
Những tuyên bố này đã diễn ra tại Bayt Al-Maqdis, và bức thư ân phước của Rasulullah (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) đã được đọc. Tiếng thì thầm giữa những người La Mã tăng lên, khi Heraclius hôn bức thư và đặt nó lên mắt và đầu của mình. Ceaser ra lệnh đưa Abu Sufyan và những người Quraysh khác ra ngoài. Abu Sufyan, người vẫn trở thành Muslim, đã thề ở đây rằng ông tin rằng sự nghiệp của Vị tiên tri kính yêu của chúng ta sẽ thành công.
Hadrat Dihya diện kiến Heraclius và nói với khuôn mặt rạng ngời, phúc thiện và giọng nói êm ái của mình, “Hỡi Ceaser! Một người (Harith) từ Busra đã gửi tôi đến với ngài. Ông ấy may mắn hơn ngài. Tôi thề với Allahu ta’ala rằng người (Rasulullah) phái tôi đến với ông ấy may mắn hơn cả ông ấy và ngài. Ngài nên khiêm nhường lắng nghe lời tôi và chấp nhận lời khuyên! Bởi vì nếu ngài khiêm nhường, ngài sẽ hiểu lời khuyên. Nếu ngài không công nhận lời khuyên, ngài không thể có sự công tâm!”
Khi Heraclius bảo ông ta, “Tiếp tục đi,” Hadrat Dihya nói, “Vì vậy, tôi mời ngài tin vào Allahu ta'ala mà Isa 'alaihis-salam đã hành lễ namaz. Tôi mời ngài tin vào một Tiên tri ummi (một người chưa hề học cách đọc và viết) mà sự xuất hiện của Ngài ấy đã được báo trước và loan tin bởi Musa 'alaihis-salam và sau đó là Isa 'alaihissalam. Nếu ngài biết về chủ đề này và muốn có được hạnh phúc ở thế giới này và cả đời sau, hãy mang chúng đến trước mắt ngài. Nếu không, ngài sẽ không có hạnh phúc của đời sau và vẫn ở trong đa thần giáo. Hãy biết rõ rằng Allahu ta'ala, là Rabb của ngài, tiêu diệt những kẻ tàn ác và thay đổi các phước lộc.”
Heraclius nói, “Ta không hề bỏ sót bài viết nào mà không đọc, và ta không từ chối học giả nào đến với ta mà không tìm hiểu những điều ta không biết từ họ. Bằng cách đó, ta chỉ nhận được lợi lộc. Ta cần chút thời gian để suy nghĩ và khám phá ra sự thật.” Sau đó, ông gọi Hadrat Dihya đến và nói chuyện riêng. Ông thổ lộ những gì chất chứa trong lòng mình: “Ta biết người phái ông đến là Vị tiên tri cuối cùng và sự xuất hiện của Ngài ấy đã được báo trước trong kinh sách và sự xuất hiện của Ngài ấy đang được chờ đợi. Dù vậy, ta sợ rằng nếu đi theo Ngài ấy, dân La Mã sẽ giết ta. Ta sẽ phái ông đến chỗ Safatir, học giả vĩ đại nhất của họ và là người mà họ tôn kính hơn ta. Tất cả người Thiên chúa giáo đều nghe theo ông ấy. Nếu ông ấy tin, tất cả dân La Mã sẽ tin theo. Khi đó ta sẽ nói rõ đức tin của ta và những gì trong trái tim ta.”
Và Heraclius viết một lá thư, trao cho Hadrat Dihya gửi cho Safatir.
Linh mục Safatir
Giáo chủ Rasulullah của chúng ta cũng đã gửi một lá thư cho Safatir. Khi Safatir đọc những lá thư và nghe về các thuộc tính của Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta, ông ấy nói rằng không còn nghi ngờ gì nữa Ngài là nhà tiên tri của thời đại cuối cùng, mà sự xuất hiện của Ngài đã được Hadrat Musa và Hadrat Isa thông báo, và ông đã theo Islam. Ông về nhà, giam mình trong ba tuần, không xuất hiện để rao giảng như thường lệ vào mỗi Chủ Nhật. Những người Thiên chúa giáo hét lên, “Ông ấy đã không ra ngoài kể từ khi nói chuyện với người Ả Rập đó, có chuyện gì với Safatir thế? Chúng tôi cần ông ấy!”
Safatir trút bỏ bộ quần áo linh mục đen. Ông ấy mặc quần áo trắng và đến giáo đường với gậy trên tay. Sau khi tập trung mọi người trong thị trấn, ông đứng dậy và nói, “Hỡi người Thiên chúa giáo! Hãy biết rằng có một lá thư từ Ahmad ('alaihis-salam) đã đến với chúng ta. Ngài ấy đã mời gọi chúng ta đến với chân tôn giáo. Tôi biết rõ và tin Ngài là một Rasul thực sự của Allahu ta'ala.”
Khi những người Thiên chúa giáo nghe thấy thế, họ đã tấn công Safatir và đánh chết ông. Hadrat Dihya đã đến và thông báo cho Heraclius về tình hình. Heraclius nói, “Tôi đã không nói với các người sao? Với những người Thiên chúa giáo, Safatir được yêu mến và vượt trội hơn tôi. Nếu họ nghe thấy, họ sẽ giết tôi như ông ấy.”
Theo Bukhari kể trong cuốn sách có tên là Sahih, được thuật lại từ Zuhri, có ghi rằng: Heraclius đã gọi những người nổi tiếng của La Mã đến dinh thự của mình ở Homs và ra lệnh đóng cửa. Sau đó, ông đứng trên một nơi cao và nói, “Hỡi cộng đồng La Mã! Các người có muốn có được bình an và hạnh phúc, mãi mãi giữ chủ quyền của mình và tuân theo những gì Hadrat Isa (Jesus) đã chỉ thị không?” Người La Mã hỏi, “Hỡi nhà cai trị của chúng tôi! Chúng tôi sẽ làm gì để có được điều đó?” Heraclius trả lời, “Hỡi cộng đồng La Mã! Ta tập trung các người lại vì có một mục đích chính đáng. Ta đã nhận được lá thư của Hadrat Muhammad. Ngài ấy mời gọi ta đến với tôn giáo Islam. Ta thề có Allahu ta’ala rằng Ngài là nhà tiên tri, người mà chúng ta đang chờ đợi, người đã được nhắc đến trong kinh sách của chúng ta, người có các dấu hiệu mà chúng ta đã biết. Nào, chúng ta hãy theo Ngài để có được sự cứu rỗi trong thế giới này và đời sau.” Thế rồi, đám đông bắt đầu nguyền rủa, kêu la và chạy đến cổng để ra ngoài. Nhưng họ không thể ra ngoài vì cửa đã đóng.
Khi Heraclius nhìn thấy hành động này của người La Mã và nhận ra cách họ từ chối Islam, ông đã lo cho sinh mạng của mình và nói, “Hỡi cộng đồng La Mã! Ta chỉ nói để thử thách lòng sùng kính của các người đối với tôn giáo của mình thôi. Chứng kiến lòng sùng kính và những hành động như vậy khiến ta hạnh phúc.” Sau đó, người La Mã đã quỳ trước Heraclius và rời đi khi cánh cửa dinh thự mở ra.5
Heraclius gọi Hadrat Dihya và giải thích những gì đã xảy ra. Ông đã tặng cho ông ấy nhiều món quà quý. Ngoài ra, ông có một lá thư phúc đáp cho Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta (sall-Allahu 'alaihi wa sallam). Ông đưa cho Hadrat Dihya lá thư và những món quà mà ông đã chuẩn bị cho Tiên tri kính yêu của chúng ta.
Heraclius muốn trở thành Muslim, nhưng ông đã không theo Islam vì sợ mất địa vị và mạng sống. Trong bức thư gửi cho Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta, ông nói, “Từ Ceaser, Hoàng đế La Mã gửi đến Rasul Muhammad của Allahu ta’ala, người đã được Hadrat Isa truyền tin mừng! Sứ giả của ngài đã đến gặp tôi cùng với bức thư của ngài. Tôi thề rằng ngài là Rasul thực sự của Allah. Chúng tôi biết Ngài đã được đề cập trong Injil, và Hadrat Isa đã loan tin mừng về Ngài cho chúng tôi. Mặc dù tôi đã mời người dân La Mã tin vào ngài, nhưng họ đã từ chối. Nếu họ nghe tôi, chắc chắn điều đó sẽ tốt cho họ. Tôi rất muốn ở bên ngài, phục vụ và rửa chân cho ngài.”
“Hỡi Khatib! Xin Allahu ta’ala ban ân phước cho sứ mệnh này của ông!”
Hadith
ash-sharif
Hadrat Dihya rời Heraclius và đến Hisma. Trên đường đi, tại Thung lũng Shanar, một trong những thung lũng của Juzam, Hunayd ibn Us, con cháu và thuộc hạ của ông ấy đã cướp phá Hadrat Dihya. Họ lấy đi mọi thứ của ông trừ quần áo cũ. Tại nơi này, Dubayb ibn Rifaa ibn Zayd và người dân của ông đã theo Islam. Khi Dihya đến gặp họ và nói cho họ về những gì đã xảy ra, họ đã kéo nhau đi chống lại Hunayd ibn Us và bộ tộc của ông ấy và thu lại tất cả đồ đạc. Sau đó, Giáo chủ Rasulullah của chúng ta đã cử Zayd ibn Harith chống lại Hunayd ibn Us và những người của ông ấy. Mọi người trong thị trấn đó đều trở thành Muslim.
Khi Hadrat Dihya đến Medina, ông đã đi thẳng đến nhà Giáo chủ Habib al-akram của chúng ta mà không dừng lại ở nhà mình. Ông gõ cửa. Nhà tiên tri của chúng ta hỏi, “Ai vậy?” Dihya trả lời, “Dihyat al-Kalbi.” Chủ nhân của thế gian nói, “Vào đi.” Hadrat Dihya bước vào nhà và kể lại mọi chuyện đã xảy ra một cách chi tiết. Ông đọc bức thư của Heraclius gửi cho Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta. Rasulullah nói, “Ông ta sẽ tại vị (ngai vàng) một thời gian. Miễn là bức thư của ta còn với họ, thì quyền cai trị của họ sẽ tiếp tục.”
Mặc dù Heraclius đã viết trong thư rằng ông tin vào Tiên tri của chúng ta (sall-Allahu 'alaihi wa sallam), nhưng Giáo chủ Rasulullah của chúng ta đã nói, “Ông ta đang nói dối. Ông ta chưa từ bỏ tôn giáo của mình.” Heraclius đã giuwx bức thư của Tiên tri kính yêu của chúng ta trong một tấm lụa và cất trong một chiếc hộp tròn làm bằng vàng. Dòng họ Heraclius đã cất giữ bức thư ấy và giữ bí mật với mọi người. Họ nói và tin rằng triều đại của họ sẽ tiếp tục miễn là họ còn bức thư này. Thật vậy, đó là những gì đã xảy ra sau đó.6
Bức thư gửi đến nhà cai trị Ai Cập, Muqawqas (Cyrus của Alexandria)
Trước khi gửi Khatib ibn Abi Baltaa đến người cai quản Ai Cập, Giáo chủ Rasul al-akram (sall-Allahu ’alaihi wa sallam) của chúng ta hỏi, “Hỡi các Ashab! Trong số các bạn, ai sẽ mang thư này đến người cai quản Ai Cập, hòng nhận phần thưởng từ Allahu ta’ala?” Hadrat Khatib lập tức tiến lên và nói, “Hỡi Rasulallah! Tôi nhận!” Nhà tiên tri của chúng ta nói, “Này Khatib! Cầu xin Allahu ta’ala ban phước cho sứ mệnh này của ông!”
Hadrat Khatib ibn Abi Baltaa đã nhận thư từ Vị tiên tri kính yêu của chúng ta. Ông tạm biệt và đi về nhà. Ông chuẩn bị vật cởi của mình. Sau khi tạm biệt gia đình, ông lên đường.
Hadrat Khatib biết rằng Muqawqas, người cai quản Ai Cập, đang ở Alexandria. Ông đã đến cung điện của ông ấy. Người gác cổng khi biết mục đích của Hadrat Khatib đã rất tôn trọng và cho ông vào, không bắt ông phải đợi. Vào lúc ấy, Muqawqas đang trên một con tàu trên biển và nói chuyện với thuộc hạ của mình. Hadrat Khatib đã lên chiếc tàu ấy và đến chỗ Muqawqas. Ông đưa cho ông ấy lá thư của Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta. Muqawqas lấy lá thư từ Khatib và bắt đầu đọc:
“Bismillahirrahmanirrahim!
Từ Muhammad, tôi tớ và rasul của Allahu ta’ala, đến Muqawqas, người đứng đầu của Copt (dân tộc lâu đời của Ai Cập)!
Cầu xin bình an cho những ai tuân theo sự chỉ dẫn. Ta mời ông đến với Islam để được cứu rỗi. Hãy trở thành một Muslim để đạt được sự cứu rỗi và được Allahu ta’ala ban thưởng gấp đôi. Nếu ông quay lưng lại, tội lỗi của tất cả người Copt sẽ đổ lên đầu ông! ‘(Rasul của tôi,) Hãy nói: Hỡi (người Do Thái và người Cơ đốc giáo) những người của kinh sách! Hãy đến với lời chung của chúng ta. Nghĩa là, chúng ta không thờ ai khác ngoài Allahu ta’ala và xem bất kỳ ai là đối tác của Người. Chúng ta không chối Allahu ta’ala và công nhận bất kỳ ai trong chúng ta là đấng sáng tạo. Nếu họ quay lưng lại với lời này, thì hãy nói ‘Hãy làm chứng. Chúng tôi là những người Muslim thực sự!’”7
Khi lá thư của Vũ trụ vương được đọc lên, Muqawqas nói với Hadrat Khatib, “Mong rằng điều đó sẽ tốt lành!” Người cai quản Ai Cập đã tập hợp các chỉ huy và chính khách của mình và bắt đầu nói chuyện với Khatib. Ông nói:
“Ta sẽ hỏi ông về một số điều ta muốn hiểu; ta sẽ nói chuyện với ông về vấn đề này.” Khi Hadrat Khatib trả lời, “Được thôi, chúng ta hãy nói chuyện,” Muqawqas nói:
- Hãy kể cho tôi nghe về người đã cử ông đi. Ông ấy có phải là một nhà tiên tri không? Hãy kể cho tôi nghe về Ông ấy!
- Vâng, Ông ấy là một nhà tiên tri.
- Nếu Ông ấy thực sự là một nhà tiên tri, tại sao Ông ấy không nguyền rủa những người dân của mình đã buộc Ông ấy phải rời bỏ quê hương và lánh nạn ở nơi khác?
- Ông tin rằng Isa ibn Maryam 'alaihis-salam là một nhà tiên tri, phải không? Khi người dân muốn bắt và giết Ngài, Ngài không nguyền rủa họ, và Janab al-Haqq đã đưa Ngài về trời. Người đã ban phúc cho Ngài. Đáng ra Ngài nên cầu nguyện Allahu ta'ala tiêu diệt dân của Ngài chứ? Nhưng đó không phải là điều Ngài đã làm.
- Ông đã đưa ra một câu trả lời rất hay. Thật vậy, ông là một người khôn ngoan đến từ bên cạnh một người khôn ngoan. Hãy ở lại với chúng tôi đêm nay, và ta sẽ cho ông câu trả lời của ta vào ngày mai.
Hadrat Khatib nói với Muqawqas, ám chỉ đến Pharaoh vào thời Hadrat Musa:
- Có một người cai trị ở đây trước ông. Ông ta đã tuyên bố mình là thần, nói rằng, “Ta là vị thần vĩ đại nhất!” Allahu ta'ala đã trừng phạt ông bằng những cực hình của thế giới này và đời sau và trả thù ông ta. Hãy rút ra bài học từ điều này, đừng trở thành bài học cho người khác!
- Chúng tôi đã có một tôn giáo và sẽ không từ bỏ trừ khi có một tôn giáo khác tốt hơn.
- Tôn giáo tốt hơn tôn giáo các người đang theo và nói rằng các người sẽ không từ bỏ trừ khi có tôn giáo tốt hơn, chắc chắn là Islam. Chúng tôi đang mời các người đến với Islam, tôn giáo cuối cùng của Allahu ta’ala. Allahu ta’ala đã hoàn thành tôn giáo của Người thông qua Ngài, hoàn thiện nó cho con người, và điều này là chắc chắn. Vị tiên tri này đã mời không chỉ các người mà còn tất cả loài người đến với Islam. Vào thời điểm đó, trong tất cả, Quraysh là những người phản ứng thô lỗ nhất; người Do Thái là những người thù địch nhất, và những người Thiên chúa giáo là những người gần gũi nhất với Ngài. Tôi thề có Allahu ta’ala rằng việc Musa ‘alaihis-salam báo trước sự xuất hiện của Isa ‘alaihis-salam cũng giống như việc Isa ‘alaihis-salam báo trước sự xuất hiện của Muhammad ‘alaihis-salam. Do đó, việc chúng tôi mời các người đến với Qur’an al-karim cũng giống như việc các người mời người Do Thái đến với Injil. Chắc hẳn các người biết rõ rằng mỗi nhà tiên tri đã được phái đến với một dân tộc có thể hiểu và lĩnh hội được Ngài ấy. Và dân tộc đó bắt buộc phải tuân theo vị tiên tri đó. Ông là một trong những người đã tiếp cận vị tiên tri này. Chúng tôi mời ông đến với tôn giáo mới này.
“(Rasul của Ta,) Hãy nói: Hỡi (Do Thái nhân và Cơ đốc nhân) những người thông thạo Kinh sách! Hãy đến với lời chung giữa chúng ta. Nghĩa là, không tôn thờ bất kỳ ai khác ngoài Allahu ta’ala và xem bất kỳ ai là đối tác của Người. Chúng ta không chối Allahu ta’ala và không công nhận bất kỳ ai trong chúng ta là đấng sáng tạo. Nếu họ từ chối những lời này, thì hãy nói, ‘Hãy làm chứng, Chúng tôi là những người Muslim chân chính!’”
Al-i ‘Imran: 64
Khi nghe những lời này của Hadrat Khatib, Muqawqas nói:
- Ta đã quan sát tình trạng của vị tiên tri này. Ta không thể tìm thấy bất cứ điều gì vô lý trong các lệnh truyền và lệnh cấm của Ngài. Theo như ta biết, Ngài không phải là một phù thủy, một thầy bói hay một kẻ nói dối. Ta đã tìm thấy một số dấu hiệu về mệnh tiên tri ở Ngài. Những điều mặc khải có ngụ ý một trong những dấu hiệu này. Việc cung cấp thông tin về một số bí mật đã xuất hiện từ người này. Sau đó, nói rằng, “Hãy để ta cân nhắc đã”, ông đã yêu cầu một thời gian.
Đêm đến, Muqawqas đánh thức Hadrat Khatib và nói rằng ông ta muốn hỏi thêm nhiều câu hỏi nữa về Vị tiên tri của chúng ta. Sau đó, cuộc trò chuyện này diễn ra giữa họ:
- Nếu ông trả lời, ta sẽ hỏi vài câu đúng về Ngài, ta muốn hỏi ông ba điều.
- Hỏi bất cứ điều gì ông muốn! Tôi sẽ luôn nói sự thật với ông.
- Muhammad kêu gọi mọi người làm gì?
- Ngài kêu gọi mọi người chỉ thờ phụng Allahu ta’ala. Ngài ra lệnh thực hiện lễ nguyện năm lần một ngày, nhịn ăn trong tháng Ramadan, giữ lời hứa. Ông cấm ăn xác thối.
Khi nghe vậy, Muqawqas hỏi:
- Hãy mô tả hình thức bên ngoài của Ngài (ngoại hình) cho ta!
Ông ấy đã mô tả vắn tắt về ngoại hình của Ngài, không đề cập nhiều đến điều đó. Khi Muqawqas nói:
- Vẫn còn một số điều mà ông chưa kể, chẳng hạn như Ngài có một vết đỏ trong mắt và dấu hiệu tiên tri trên lưng. Ngài cưỡi lừa, mặc vải len và sống bằng chà là và thức ăn có ít thịt. Ngài được bảo hộ bởi những người bác hoặc con trai của các bác.
Hadrat Khatib trả lời:
- Đây cũng là những thuộc tính của Ngài.
Muqawqas lại hỏi Hadrat Khatib về Vị tiên tri của chúng ta:
- Ngài có sử dụng kohl không?
- Có! Ngài soi gương, chải tóc và luôn mang theo gương, hộp đựng kohl, lược và miswak (cành cây arak mọc ở Ả Rập được dùng để đánh răng), bất kể Ngài đi du lịch hay ở nhà.
- Ta có biết rằng vẫn còn một nhà tiên tri đang đến, và ta tưởng rằng Ngài sẽ đến từ Damascus. Bởi vì các tiên tri trước đây luôn đến từ đó. Mặc dù ta đã thấy trong kinh rằng tiên tri cuối cùng sẽ xuất hiện ở Ả Rập, một vùng đất khô cằn, thiếu thốn và đói kém. Đây chắc chắn là lúc mà nhà tiên tri có các đặc điểm được viết trong kinh, xuất hiện. Chúng ta đã tìm thấy các đặc điểm của Ngài được viết trong kinh là, “Ngài không cưới hai chị em trong hôn nhân, Ngài nhận quà tặng và không nhận sadaqa, Ngài cùng ngồi và cùng đi với người nghèo.” Dân Copt sẽ không nghe ta nếu ta theo Ngài. Ta cũng sẽ không từ bỏ vương triều của mình. Ta rất tham lam về điều này. Vị tiên tri đó sẽ cai quản nhiều quốc gia, và sau Ngài, các sahabi của Ngài sẽ đến và định cư trên vùng đất này của chúng ta. Cuối cùng, họ sẽ chiến thắng những người ở đây. Ta sẽ không nói một lời nào về điều này với người Copt, cũng sẽ không báo cho bất kỳ ai về những lời này!
Sau cuộc trò chuyện này, Muqawqas gọi người ghi chép bằng tiếng Ả Rập của mình đến. Ông bảo người này viết trả lời cho bức thư của Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta như sau:
“Từ Muqawqas, thủ lĩnh của người Copt gửi Muhammad, con trai của Abdullah!
Bình an sẽ đến với Ngài. Tôi đã đọc bức thư Ngài gửi. Tôi hiểu những gì Ngài đề cập và lời mời gọi của Ngài trong đó. Tôi cũng biết rằng một nhà tiên tri sẽ đến. Nhưng tôi nghĩ rằng ngài ấy sẽ đến từ Damascus. Tôi đã tỏ lòng tôn kính với sứ giả của Ngài. Tôi đã gửi cho Ngài hai nữ nô lệ, những người rất có giá trị đối với người Copt, và quần áo. Tôi cũng đã tặng Ngài một con la cái làm quà để Ngài cưỡi.”
Muqawqas không làm gì khác, và ông đã không trở thành Muslim. Ông đã tiếp đón Hadrat Khatib ở Ai Cập trong năm ngày. Ông tỏ ra rất kính trọng và tặng quà cho ông ấy. Sau đó, ông ta nói, “Hãy trở về đất nước của ông ngay lập tức, đến với Giáo chủ của ông! Ta đã ra lệnh gửi hai nữ nô lệ, hai con ngựa, một ngàn mithqal (một mithqal là 4,8 gr) vàng, hai mươi bộ quần áo đẹp của Ai Cập và những món quà khác cho Ngài. Ta đã lệnh cho họ đưa cho ông một trăm dinar và năm bộ quần áo. Nào, hãy rời khỏi ta! Đừng để người Copt nghe một lời nào từ miệng ông!”
Muqawqas cũng gửi một chiếc cốc pha lê, mật ong thơm, khăn xếp, vải lanh Ai Cập, các loại nước hoa như trầm hương và xạ hương, một cây gậy đi bộ, hộp kohl, dầu hoa hồng, lược, kéo, miswak, gương, kim và chỉ để làm quà tặng cho Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta.
Muqawqas đã phái những vệ binh đi cùng Hadrat Khatib ibn Abi Baltaa, sứ giả Hồi giáo. Khi đặt chân đến vùng đất Ả Rập, họ đã bắt gặp một đoàn lữ hành đang đi đến Medina. Khatib đã gửi trả những vệ binh của Muqawqas lại và gia nhập đoàn lữ hành đó.
Khatib ibn Abi Baltaa đã mang quà về Medina và đến gặp Rasulullah. Vị Tiên tri kính yêu của chúng ta (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) đã nhận quà của Muqawqas. Khi Khatib đưa bức thư của Muqawqas và thuật lại lời của ông ấy, Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta nói, “Thật là một người xấu xa! Ông ta không thể từ bỏ vương triều của mình. Tuy nhiên, thứ quyền lực ngăn cản đức tin của ông ta, sẽ không ở lại với ông ta!”8
Hai nữ nô lệ mà Muqawqas gửi đến cho Vị tiên tri của chúng ta như một món quà là Mariya và em gái của cô là Sirin. Khi Khatib ibn Abi Baltaa đề nghị họ trở thành Muslim trong hành trình, họ đã chấp nhận và trở thành Muslim. Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta rất vui mừng khi mẹ của chúng ta là Hadrat Mariya trở thành Muslim và vinh danh bà bằng cách kết hôn với bà. Ông có một người con trai tên là Ibrahim từ bà. Còn về Sirin, Nhà tiên tri của chúng ta đã trao bà cho Hassan ibn Thabit, một trong những Ashab của Ngài, một Nhà thơ của Tiên tri.
“Hỡi Allah! Xin hãy huỷ hoại hắn (Shah) và xé nát vương triều của hắn như hắn đã xé nát bức thư của con!...”
Hadith
ash-sharif
Trong hai con vật thuần chủng có lông màu xám trắng, con la được đặt tên là Duldul và con lừa được gọi là Ufayr hoặc Yafur. Trước ngày đó, ở bán đảo Ả Rập chưa từng thấy một con la lông trắng. Duldul là con la lông trắng đầu tiên mà người Hồi giáo nhìn thấy. Đức Tiên tri của chúng ta thường uống nước từ chiếc ly pha lê được tặng làm quà.
Muqawqas tỏ ra rất quý lá thư của Vị tiên tri của chúng ta và đặt nó vào một chiếc hộp ngà voi. Hắn niêm phong chiếc hộp và trao nó cho một trong những nô lệ nữ của mình giữ. (Lá thư đó được tìm thấy trong số những cuốn sách Coptic tại một tu viện cổ trong vùng Ahmin, Ai Cập vào năm 1267 [năm 1850 sau Công nguyên] và được Vua Abdulmajid Han của Ottoman, Khalifa thứ 96, mua lại. Nó được đặt trong Khu thánh tích của Cung điện Topkapi ở Istanbul.)
Thư gửi cho Shah của Iran, Khosrow Parviz
Abdullah ibn Huzafa được phái đến gặp người cai trị Iran. Khi Hadrat Abdullah trình bức thư quý giá của Chủ nhân vũ trụ cho người cai trị kiêu ngạo của Iran, ông đã đưa nó cho thư ký của mình để đọc to.
“Bismillahirrahmanirrahim!
Từ Muhammad (’alaihis-salam), Rasul của Allahu ta’ala, gửi đến Shah và thủ lĩnh của Ba Tư...”
Thư ký đọc đến đây thì Shah kiêu ngạo nổi giận, ông ta cầm lấy bức thư và xé nó đi. Ông ta vô cùng tức giận vì Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đã bắt đầu bức thư bằng tên thánh của Ngài. Khi ông ta muốn đuổi người sứ giả Hồi giáo, Hadrat Abdullah đã nói với Shah và những người thờ lửa tụ tập xung quanh ông ta những lời sau:
“Hỡi người Ba Tư! Các người không tin vào các tiên tri, và các người không chấp nhận Thiên kinh. Các người đang sống trong mơ, những ngày tháng hữu hạn của các người đang trôi qua trên vùng đất mà các người đang sống!
Hỡi Shah! Nhiều người cai trị trước các người đã ngồi trên ngai vàng này và cai trị. Những người thực hiện các điều răn của Allahu ta’ala đã qua đời khỏi thế giới này sau khi đật được đời sau của họ, và những người không làm như vậy đã phải chịu sự trừng phạt của thần thánh!
Hỡi Shah! Bức thư mà tôi mang đến và trình bày thực sự là một phước lành lớn lao cho các người. Các người đã khinh thường nó. Tôi thề với Allahu ta’ala rằng khi tôn giáo mà các người khinh thường đến đây, các người sẽ tìm một nơi để trốn thoát!”
Sau đó, ông rời khỏi cung điện của Shah và cưỡi con vật của mình. Ông nhanh chóng rời khỏi đó. Khi ông về Medina và giải thích tình hình với Quốc vương của vũ trụ, Ngài nói, “Hỡi Allah! Hãy xé nát hắn và triều đại của hắn thành từng mảnh như hắn đã xé nát bức thư của tôi thành từng mảnh!”
Allahu ta'ala đã chấp nhận lời cầu nguyện của Rasul, và một đêm nọ, Shah đã bị đâm và xé xác bởi chính con trai mình. Trong thời của Hadrat 'Umar, tất cả các vùng đất của Iran đã bị người Muslim chiếm giữ.9
Thư gửi người cai quản Ghassan, Harith ibn Abi Shimr
Hadrat Shuja’ ibn Wahb được phái đến gặp người cai quản Ghassan. Đầu tiên, Shuja’ radiy-Allahu ‘anh đã nói chuyện với người gác cổng. Khi ông mời anh ta theo Islam, người gác cổng đã chấp nhận và bày tỏ lòng kính trọng và lời chào của mình đến Giáo chủ Rasulullah của chúng ta. Ngay lập tức, anh ta đã sắp xếp cuộc gặp giữa Hadrat Shuja’ với người cai trị.
Khi Harith ibn Abi Shimr đọc to bức thư, người cai trị đã tức giận và ném nó xuống đất. Hadrat Shuja’ ngay lập tức trở về Medina và kể cho người yêu quý của Allahu ta’ala những gì đã xảy ra. Tiên tri kính yêu của chúng ta đã rất buồn khi bức thư của Ngài bị ném xuống đất và nói rằng, “Cầu cho triều đại của hắn bị hủy diệt!” Ngay sau đó, Harith ibn Abi Shimr qua đời và đất nước của hắn tan rã.10
Thư gởi người cai quản Yamama, Hawza ibn Ali
Salit ibn Amr được phái đến gặp người cai quản Yamama. Hawza là một người theo đạo Thiên chúa. Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đã nói trong bức thư của Ngài:
“Bismillahirrahmanirrahim!
Từ Muhammad (’alaihis-salam), Rasul của Allahu ta’ala, gửi đến Hawza ibn Ali! Xin bình an cho những ai có được sự hướng dẫn, chính đạo! (Hỡi Hawza!) Nên biết rằng Islam sẽ lan rộng đến những nơi xa nhất, nơi mà lạc đà và ngựa có thể đi đến, và sẽ chiến thắng tất cả các tôn giáo. Hãy công nhận Islam để ông có thể đạt được cứu rỗi. Nếu ông trở thành Muslim, tôi sẽ giữ lại các vùng đất dưới quyền cai quản của ông cho ông vẫn quản lý …”
Hawza, người cai quản Yamama, đã từ chối lời mời ân phước này. Lòng say mê quyền lực và lòng tham địa vị đã làm ông mù quáng. Vì thế, ông đã bị vụt mất phước lành có được từ lời cầu nguyện của Vũ trụ vương. Hadrat Salit ibn Amr, sứ giả Hồi giáo, đã thương hại ông và nói:
“Hỡi Hawza, người cai quản Yamama! Ông là người đứng đầu của dân tộc này! Những Caesar mà ông cho là vĩ đại đã chết và trở thành đất.
Những người thực sự nổi bật là những người xứng đáng với Thiên đàng nếu thực hiện các điều răn của Allahu ta’ala và tránh những điều cấm của Người. Nếu một cộng đồng được tôn vinh vì có đức tin, hãy cẩn thận đừng dẫn họ đi lạc khỏi con đường đúng đắn bằng niềm tin sai trái của chính ông! Thành thật mà nói, ta khuyên ông nên thực hiện các điều răn của Allahu ta’ala và kiêng các điều cấm của Người. Nếu ông tin vào Allahu ta’ala và thực hiện các mệnh lệnh của Người, ông sẽ vào Thiên đàng. Nếu ông theo shaytan, ông sẽ sa vào Địa ngục.
Nếu ông chấp nhận lời khuyên này của tôi, ông sẽ được an toàn khỏi những gì ông sợ hãi và ông sẽ đạt được những gì mình hy vọng. Nếu ông từ chối lời khuyên của tôi, tôi không còn gì để làm cho ông nữa. Tùy thuộc vào ông đấy!”
Hawza đã không nghe lời khuyên tuyệt vời này của sứ giả Hồi giáo. Salit ibn Amr nhận ra rằng không cần phải ở lại Yamama nữa và nhanh chóng trở về Medina. Ông thông báo cho Vị tiên tri kính yêu của chúng ta về kết quả. Giáo chủ Rasul al-akram của chúng ta không vui vì Hawza đã tự tước đi niềm hạnh phúc khi theo Islam. Một thời gian sau, tin tức về cái chết của Hawza đến. Đam mê của ông đối với quyền lực và tham vọng về địa vị đã kết thúc trong ngôi mộ của ông, đó là một cái hố Địa ngục.11
Thư gửi Thống chế Bahrain, Munzir ibn Sawa
“Hỡi Allah! Những khó khăn mà Umm Ruman đã phải chịu đựng trên con đường của Người và vì Rasul của Người được Người biết hết.”
Hadith
ash-sharif
Hadrat Ala ibn Hadrami mang thư của Ngài đến thống chế Bahrain. Thống chế đã trân trọng đọc bức thư ấy, nắm rõ nội dung và ông đã tôn vinh nó với việc đến với đức tin của mình.
Khác với những người kia (trừ Negus Ashama), ông không nói, “Người ta sẽ nói thế này thế nọ với ta, ta sẽ bị mất ngai vàng.” Với việc đọc, “Ashhadu an la ilaha illallah wa ash-hadu anna Muhammadan abduhu wa rasuluh!”, ông đã cứu bản thân và thần dân của mình, những người đi theo ông khỏi lửa của Địa ngục. Một nhà cai trị đã chứng tỏ sự thông minh khi có đức tin thông qua một lá thư mời trở thành Muslim. Một số thần dân đã đi theo ông và trở thành Muslim. Có một số người trong số họ không tin.
Munzir đã ghi lại tình hình và trình lên Tiên tri kính yêu của chúng ta qua Ala ibn Hadrami radiy-Allahu ‘anh. Thư trả lời của Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta như sau: “Những ai nghe theo ông sẽ được dạy về Islam. Những ai chống đối sẽ phải chịu jizya (thuế). Họ (người Muslim) sẽ không ăn thịt do người Zoroastrian giết mổ, và sẽ không cưới hoặc gả con gái cho chúng.”
Như vậy, bảy sứ giả Islam đã làm tròn sứ mệnh và công bố sự tồn tại của Islam với các quốc gia lớn vào lúc đó. Họ thông báo cho mọi người về chân hạnh phúc và không có chỗ cho câu nói, “Chúng tôi chưa từng nghe nói đến điều đó bao giờ,” vào ngày phán xét.
Tóm lại, hai trong số các nhà cai trị đã trở thành tín đồ. Một là Negus, và người thứ hai là Munzir. Những người khác vẫn vô đức tin.
Người cai quản Abyssinian Ashama (rahmatullahi 'alaih) đã được vinh danh khi trở thành Muslim, nhìn thấy một số Ashab al-kiram, đạt được những lời cầu nguyện ân phúc của Giáo chủ, Tiên tri chúng ta và thực hiện nikah của Rasulullah và Umm Habiba radiy-Allahu'anha.
Heraclius, Hoàng đế Đông La Mã, và Muqawqas, Quốc vương Ai Cập, đã không trở thành Muslim, nhưng họ đã thể hiện sự tôn trọng lớn đối với các lá thư và đưa ra những câu trả lời nhẹ nhàng, đối xử tốt với các sứ giả và gửi quà cho Giáo chủ Rasulullah của chúng ta.
Những người cai quản Ghassan và Iran đã không đối xử tốt với các sứ giả và thể hiện sự thù địch của họ một cách công khai.
Người cai quản Yamama đã đối xử lịch sự với sứ giả Hồi giáo.
Những sự kiện khác xảy ra trong năm Hegira thứ sáu
Zihar (một cách ly hôn) đã xảy ra giữa Hawla ibn Sa’laba ibn Kays ibn Malik al-Hazraji và chồng bà là Aws ibn Samit ibn Ahzami Ansari. Và Surah Al-Mujadala đã được mặc khải.
Rasulullah (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) cho phép đua ngựa và lạc đà. Khi con lạc đà của Ngài, con vật chưa bao giờ thua cuộc trước đây, bị lạc đà của người Ả Rập đánh bại và Ashab của Ngài buồn bã, Ngài nói, “Có lên phải có xuống.”
Umm Ruman, mẹ của mẹ chúng ta Aisha (radiy-Allahu ‘anha) đã qua đời. Rasulullah (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) đã dẫn đầu lễ cầu nguyện tang lễ và chôn cất bà. Rasulullah đích thân đưa bà xuống mộ. Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đã truyền cho bà tin vui về Thiên đàng và nói, “Bất cứ ai thích ngắm nhìn houris của Thiên đàng, hãy nhìn Umm Ruman.” Và sau khi cầu nguyện để bà được tha thứ, Ngài nói, “Hỡi Allah! Những gian khổ mà Umm Ruman đã phải chịu đựng trên con đường của Người và vì Rasul của Người, Người đều thấy hết.”
CHINH PHỤC KHAYBAR
Ở Medina rực rỡ, có một số người Do Thái bề ngoài là người Muslim nhưng thực tế là những kẻ đạo đức giả. Trước khi Rasulullah (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) di cư đến Medina, người dân Medina đã phong Abdullah ibn Salul làm thủ lĩnh của họ. Họ đã trao cho ông ta một chiếc vương miện được cẩn đá quý. Khi Rasulullah đến Medina, người dân Medina bắt đầu thể hiện sự tôn trọng, yêu mến và đi theo Ngài. Ibn Salul bị xếp vào một góc, vô giá trị. Họ ngừng chú ý đến ông ta. Vì vậy, ông ta quyết định giết hoặc gây rắc rối cho Rasulullah.
Một ngày nọ, người Do Thái tụ tập xung quanh ông ta. Họ đã lên một vài kế hoạch liên quan đến vấn đề này. Họ yêu cầu sự giúp đỡ từ Labid ibn Asim. Labid nói, “Có một bà già tên Hayra ở khu phố này. Bà ấy rất giỏi làm phép thuật. Hãy tìm bà ấy.” Họ tìm thấy người phụ nữ đáng nguyền rủa đó và đưa cho bà ấy một nghìn dirham vàng và mười cuộn vải. Họ nói, “Nếu bà giết Muhammad, chúng tôi sẽ cho bà nhiều hơn nữa.” Bà lão cắm kim vào chim bồ câu non, thắt nút chỉ rồi quấn quanh bồ câu non. Bà đặt nó vào một cái giếng đổ nát bên ngoài Medina và đậy lại. Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đổ bệnh. Tay chân Ngài bất động. Họ đưa cho Ngài nhiều loại thuốc khác nhau nhưng đều vô dụng. Tình trạng này kéo dài trong chín ngày.
Sau đó Jabrail 'alaihis-salam đến và cung cấp thông tin về tình hình. Họ đưa Rasulullah (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) đến đó. Ngài ấy mở giếng và thả con chim bồ câu ra ngoài. Nhưng không thể tháo được nút thắt trên sợi chỉ. Jabrail 'alaihis-salam mang theo Surahs Mu'awwidhatayn (Falaq và Nas). Ngài ấy nói, “Hỡi Muhammad ‘alaihis-salam! Hãy đọc những lời surah này trên những nút thắt đó.” Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta bắt đầu đọc những surah đó. Với mỗi ayat mà Ngài niệm, một nút thắt được tháo ra và một chiếc kim trồi lên. Khi Ngài đọc toàn bộ surah (11 ayats trong hai surah), tất cả các nút thắt đều được tháo gỡ. Rasulullah đã khỏi bệnh hoàn toàn và khỏe lại. Sau đó, Ngài sai gọi những người đáng nguyền rủa đó và quở trách họ. Người dân Medina đã trừng phạt họ đến mức họ phải bỏ mạng.
Labid Do Thái đã được đưa đến diện kiến Giáo chủ Rasulullah của chúng ta. Khi Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta hỏi ông ấy: “Tại sao ông làm như vậy?” ông ta trả lời: “Bởi vì tôi yêu vàng!” Một số Ashab al-kiram nói, “Hỡi Rasulallah! Nếu Ngài cho phép, chúng tôi sẽ chặt đầu tên Do Thái đó!” Vị tiên tri kính yêu của chúng ta, người không bao giờ trừng phạt bất cứ ai vì lợi ích của mình, đã không cho phép người đó bị giết, nói rằng: “Sự trừng phạt thiêng liêng mà ông ta sẽ phải đối mặt cuối cùng sẽ nghiêm khắc hơn.”12
“Pháo đài Khaybar sẽ bị Ali ibn Abi Talib chinh phục.”
Hadith
ash-sharif
Khi người Do Thái bị đuổi khỏi Medina, họ đã đến các vùng phía bắc của Ả Rập. Một số người ở lại và định cư tại Khaybar. Một số người đã đến Damascus ở phía bắc. Họ đã bị đuổi khỏi nhà của mình vì họ đã âm mưu ám sát Giáo chủ Rasulullah chúng ta. Tuy nhiên, cảm giác căm thù, giận dữ và muốn trả thù người Muslim của họ không bao giờ phai. Quả thực, nó ngày càng gia tăng. Họ muốn kết liễu sinh mạng của Habib của Allahu ta'ala, Quốc vương của vũ trụ, và xóa bỏ Islam càng sớm càng tốt. Một số thủ lĩnh của họ đã nói, “Chúng ta hãy đến chỗ người Ghatfanite và yêu cầu họ giúp đỡ, hãy cùng họ chiến đấu với người Muslim!” Một số người khác nói, “Chúng ta cũng kêu gọi người Do Thái ở Fadak, Tayma và Wadi al-Qura giúp đỡ và tấn công các thành phố của người Muslim để trả thù trước khi họ tấn công chúng ta!”
Người Do Thái ở Khaybar đồng ý những lời đó và còn kêu gọi các bộ tộc Do Thái khác ở xung quanh và người Ghatfanite giúp đỡ. Một số lượng lớn tinh binh đến từ người Ghatfanite, và họ bắt đầu chuẩn bị ở Khaybar.
Trong khi họ đang chuẩn bị, Chủ tể của vũ trụ (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) biết được tình hình về người Do Thái như thế. Ngài lập tức cử Hadrat Abdullah ibn Rawaha cùng ba sahabi đến Khaybar đi thám thính. Abdullah ibn Rawaha cùng ba người bạn nhanh chóng đến Khaybar. Khaybar là một thành phố trù phú có tám pháo đài kiên cố và một số pháo đài nhỏ, đất đai màu mỡ với nhiều vườn nho và hoa. Hadrat Abdullah đã cử một người bạn đến pháo đài Ash-Shiqq, một người đến pháo đài Katiba và người kia đến pháo đài Natat. Ông vào một pháo đài khác. Trong ba ngày, họ đã quan sát kỹ tình hình của bọn Do Thái và việc họ chuẩn bị chiến tranh. Sau ba ngày, họ gặp nhau tại một điểm và nhanh chóng trở lại Medina. Họ kể chi tiết cho Giáo chủ, Tiên tri chúng ta về việc chuẩn bị ấy.
Nhà tiên tri kính yêu của chúng ta đã ra lệnh cho các Ashab nhanh chóng chuẩn bị. Ngài quyết định hành quân đến Khaybar, để ngăn bọn Do Thái tấn công Medina al-Munawwarah. Người Do Thái ở Medina hoảng sợ khi nghe quyết định này. Để làm nản lòng người Muslim, họ nói, “Chúng tôi cam đoan rằng các người sẽ không bao giờ dám đặt chân đến đó nếu nhìn thấy các pháo đài Khaybar và những chiến binh anh dũng ở đó! Các pháo đài nằm cao trên đỉnh núi được bảo vệ bởi những người dũng cảm với áo giáp. Có hàng ngàn binh lính từ khu vực các xung quanh đến giúp họ! Các người sao có thể chinh phục Khaybar?!” Phản bác những điều này, các sahabi anh hùng nói, “Allahu ta'ala đã hứa với Habib của Người rằng Khaybar sẽ được chinh phục.” Vì vậy, họ chứng tỏ không bao giờ sợ người Do Thái. Quyết tâm này của các Ashab khiến người Do Thái càng buồn rầu và lo lắng hơn.
Abdullah ibn Ubayy, thủ lĩnh của những người ngoại giáo, đã gửi một tin khẩn cấp đến Khaybar, nói rằng, “Muhammad đang tiến đến để chống lại các người với một đội quân nhỏ. Không có gì phải sợ, nhưng hãy thận trọng và chuyển của cải của các người vào các pháo đài. Hãy ra khỏi pháo đài chiến đấu với họ!”
Ashab al-kiram đã hoàn tất khâu chuẩn bị, tạm biệt gia đình và tụ họp quanh Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta. Họ gồm hai trăm kỵ binh và một nghìn bốn trăm bộ binh. Họ đã sẵn sàng nghe lệnh của Vị Tiên tri kính yêu để truyền bá tôn giáo của Allahu ta'ala, để thực hiện một cuộc thánh chiến và có được cấp bậc tử vì đạo. Trong khi đó, có một số phụ nữ đã yêu cầu Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta, giao cho họ nhiệm vụ trong chiến tranh, chuẩn bị thức ăn cho các Ashab al-kiram, chăm sóc bệnh binh và thương binh, băng bó vết thương, chuẩn bị thuốc men và làm bất cứ điều gì khác mà họ có thể làm. Giáo chủ, Rasulullah của chúng ta cảm thấy thương họ và không lấy đi của họ phần thưởng dành cho công việc này. Vì vậy, hai mươi người phụ nữ, do Hadrat Umm Salama, người vợ kính yêu của Vị Tiên tri kính yêu của chúng ta, dẫn đầu, đã tham gia cùng lực lượng mujahid.13
Rasul al-akram (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) để Hadrat Siba' ở lại bộ tộc Ghifar với tư cách là người đại diện của Ngài tại Medina và sau đó ra lệnh tiến về Khaybar. (Cũng có tin rằng người đại diện là Numayla ibn Abdullah.) Cuộc hành trình bắt đầu với đọc takbir. Các sahabi, những người không thể tham gia chiến tranh vì nhiều lý do hoặc không được phép vì còn quá trẻ, nhìn Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta và những người cha, ông, chú và anh trai anh hùng của họ với sự ngưỡng mộ và chào tạm biệt họ bằng takbir và những lời cầu nguyện.
Lịch cho thấy tháng Muharram vào năm Hegira thứ bảy. Hadrat Ali mang hiệu kỳ thánh thiện của Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta, và Hadrat ‘Umar chỉ huy cánh phải.14 Ngài giao cho một sahabi khác chỉ huy cánh trái. Cuộc hành trình thật vui vẻ. Với những bài thơ của mình, các nhà thơ đã cảm ơn Allahu ta’ala vì những phước lành mà Người đã ban, nói salawat cho Nhà tiên tri kính yêu của chúng ta và ca ngợi Ashab vinh quang. Như thể đang đi dự lễ hội, các sahabi đã cùng nhau nói, “Allahu akbar! Allahu akbar! La ilaha illallahu wallahu akbar!”
Tại mỗi điểm dừng, Đấng Chủ Tể của vũ trụ cầu nguyện, “Hỡi Allah! Xin nương náu nơi Người để tránh khỏi sự lo lắng về tương lai, tránh khỏi sự đau buồn về quá khứ, tránh khỏi sự yếu đuối và lười nhác, khỏi sự keo kiệt, hèn yếu và gánh nặng nợ nần, và khỏi sự phá rối của những kẻ tàn ác và bất công!”
Khi họ đến gần Khaybar, người ta thấy Vị Tiên tri kính yêu của chúng ta đã dừng Ashab của Ngài lại. Ngài mở rộng hai tay và bắt đầu cầu nguyện, “Hỡi Allah, Rabb của bầu trời và những gì được bầu trời che phủ! Hỡi Allah, chủ nhân của trái đất và những con người trên đó! Hỡi Allah, Rabb của bọn shaytan và những kẻ bị chúng làm cho lệch lạc! Hỡi Allah, Rabb của những cơn gió và những gì chúng thổi vào! Chúng tôi cầu xin từ Người những điều tốt lành cho vùng đất này, sự những điều tốt lành cho người sống trên vùng đất này, những điều tốt lành cho mọi thứ trên vùng đất này. Chúng tôi ẩn náu nơi Người tránh khỏi sự xấu xa của vùng đất này, sự xấu xa của những con người này và sự xấu xa của mọi thứ ở đó!”
Tiếng nói “Amin, amin,” phát ra từ môi của các sahabi. Sau đó, Ngài bảo Ashab của Ngài, “Hãy tiến lên với việc đọc Bismillahirrahmanirrahim.”
Xung quanh Giáo chủ Rasul al-akram của chúng ta, các Ashab al-kiram lại bắt đầu hành quân. Họ đến gần pháo đài Natat, một pháo đài kiên cố nhất của Khaybar, và dựng đại bản doanh. Lúc đó là buổi tối. Lệ thường Giáo chủ Rasulullah của chúng ta là Ngài sẽ không tấn công cho đến sáng, và trước tiên Ngài sẽ mời gọi kẻ thù đến với Islam. Vì lý do này, các Ashab al-kiram đợi đến sáng. Không một người Do Thái nào nhận ra rằng quân đội Islam đã đến.
“ Chúng ta, những nhà tiên tri, không để lại di chúc. Thứ chúng tôi để lại là sadaqa cho người nghèo.”
Hadith
ash-sharif
Sau khi dẫn dắt lễ nguyện sáng (salat fajr), Đức Chúa tể của vũ trụ đã hoàn tất sự chuẩn bị của Ngài và huy động các chiến binh mujahid. Hai trăm kỵ binh và một nghìn bốn trăm bộ binh tiến đến pháo đài Natat. Trong lúc đó, những người Do Thái từ trong pháo đài ra để chăm sóc vườn nho, vườn cây và ruộng của họ thì bất ngờ gặp quân lính Hồi giáo. Họ hoảng hốt và nói, “Chúng tôi thề rằng đó là Muhammad và đội quân chính quy của Ngài!” Họ liền bỏ chạy trở lại. Nhìn thấy tình cảnh của họ, Đức Tiên tri yêu quý của chúng ta đã nói, “Allahu akbar! Allahu akbar! Khaybar đã bị diệt vong,” và Ngài lặp lại lời đầy phước lành này ba lần.
Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) đã bảo người Do Thái hoặc trở thành Muslim hoặc đầu hàng và nộp kharaj và jizya (loại thuế mà các quốc gia Islam thu từ người dân không phải Muslim), nếu không sẽ có chiến tranh và đổ máu. Người Do Thái đã đến gặp một trong những người mà họ kính trọng, Sallam ibn Mishkam, và thông báo cho ông ấy về tình hình. Sallam khuyến khích họ rằng, “Trước đây, ta đã bảo các người tiến quân chống lại Muhammad, nhưng các người không nghe. Đừng e ngại chiến đấu với Ông ấy, ít nhất là bây giờ. Các người chết khi chiến đấu với người Muslim còn hơn là bị bỏ lại đơn độc trên đời!” Người Do Thái nhanh chóng tập trung trẻ em và phụ nữ trong pháo đài Katiba, lương thực trong pháo đài Naim và binh lính trong pháo đài Natat.
Người Do Thái đáp lại lời đề nghị đến với Islam của quân Islam bằng cách bắn tên. Những thánh chiến binh đã ngăn những mũi tên bằng khiên. Theo lệnh của Vị tiên tri kính yêu của chúng ta, cung tên được giương lên và nhắm vào người Do Thái trong các pháo đài, cùng với tiếng hô “Allahu akbar!” Lúc này, cuộc chiến đã bắt đầu. Một bên là Quốc vương của vũ trụ và các Ashab anh hùng đang chiến đấu để truyền bá Islam và để người Do Thái có được Islam nhằm được cứu khỏi Địa ngục. Bên kia là những người Do Thái, những người không nhận bất kỳ lời khuyên nào, những người muốn hãm hại người Muslim khi có cơ hội và khăng khăng không chấp nhận sự thật. Khi nhà tiên tri cuối cùng không đến từ chính dân tộc của họ, vì lòng đố kỵ, họ đã không chấp nhận Ngài. Họ đã thử mọi thủ đoạn có thể nghĩ ra để giết Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta từ khi Ngài còn niên thiếu, nhưng họ không thể làm gì được vì sự bảo vệ của Allahu ta'ala.
Hơn mười ngàn lính Do Thái bắn tên vào một ngàn sáu trăm thánh chiến binh vinh quang. Các Ashab al-kiram đã tự bảo vệ mình bằng khiên ngăn những mũi tên bắn không ngừng, và bất cứ khi nào có cơ hội, họ lại bắn ngược những mũi tên đó về phía người Do Thái. Tuy nhiên, một số sahabi đã bị thương.
Có một lúc, Người ta thấy Hadrat Khabbab ibn Munzir đang cung kính đến gặp Giáo chủ Habibullah của chúng ta. Ông hỏi, “Xin cho mạng sống của tôi được hy sinh vì Ngài, hỡi Rasulallah! Chúng ta không thể lập doanh trại ở nơi khác sao?” Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đã nói, “Insha-Allahu ta'ala, chúng ta sẽ thay đổi nó vào buổi tối!” Các thánh chiến binh ở trong tầm bắn của các mũi tên. Các mũi tên do người Do Thái bắn ra từ pháo đài có thể bắn tới phía sau doanh trại quân Islam.15
Hôm ấy, cuộc chiến tiếp tục với tên cho đến tận tối. Khoảng năm mươi sahabi bị thương do những mũi tên bắn ra. Khi đêm xuống, Hadrat Muhammad ibn Maslama được giao nhiệm vụ tìm một địa điểm mới để lập doanh trại. Khi ông tuyên bố rằng nơi được gọi là Raji’ là phù hợp, doanh trại quân Islam đã được chuyển đến đó. Những người bị thương bắt đầu được điều trị y tế.16
“Ngày chúng tôi chinh phục pháo đài Khaybar, Rasulullah (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) đã cấm ăn thịt lừa thuần chủng và lấy thêm vợ.”
Hadrat Ali
(radiy-Allahu
’anh)
Hôm sau, Ashab anh hùng đến trước Natat, chiến đấu cho đến tận tối. Cuộc bao vây tiếp tục vào ngày thứ ba, thứ tư và thứ năm. Người Do Thái luôn ở thế phòng thủ. Vào những ngày đó, Vị tiên tri kính yêu của chúng ta không thể cùng với các mujahid trong hai ngày vì Ngài bị đau đầu dữ dội. Vào ngày đầu tiên, Ngài đã trao hiệu kỳ cho Hadrat Abu Bakr, vào ngày thứ hai, cho Hadrat 'Umar. Cả hai người, phụ trách Ashab al-kiram, đã chiến đấu chống lại người Do Thái rất dữ dội, nhưng họ không thể chiếm được pháo đài.
Trong khi đó, người ta thấy người Do Thái với lòng dũng cảm đang tăng, đã mở cổng pháo đài và tấn công. Bây giờ, họ đã bắt đầu trực diện chiến đấu. Trận chiến đã trở nên càng khốc liệt hơn. Khi Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta nói với các Ashab, “Hãy đọc takbir, Allahu akbar! Allahu akbar!” họ sẽ háo hức tấn công kẻ thù bằng những tiếng takbir. Vào lúc ấy, Mahmud, anh trai của Muhammad ibn Maslama, đã tử vì đạo. Các cuộc đụng độ tiếp tục diễn ra dữ dội cho đến tận tối.
Ngày hôm sau, Marhab, một trong những chỉ huy nổi tiếng nhất của Khaybar, bước ra khỏi pháo đài với áo giáp. Hắn là một người to lớn, khỏe mạnh. Cho đến bây giờ, không ai có thể đánh bại. Hắn quay về phía các chiến binh thánh chiến và bắt đầu khoe khoang rằng, “Ta là Marhab, nổi tiếng với lòng dũng cảm và can đảm!” Trong khi hắn đang khoe khoang, người ta nhìn thấy một thánh chiến binh bước lên trước các sahabi. Để đáp lại Marhab, ông ấy hét lên, “Còn ta, ta là Amir, người không sợ lao vào những trận chiến kinh hoàng và dữ dội”, và đứng trước mặt hắn. Marhab to lớn như người khổng lồ đã tấn công Hadrat Amir bằng thanh kiếm, trên đó có dòng chữ, “Bất cứ ai nó chạm vào, sẽ bị tiêu diệt!” được viết trên đó. Amir dũng cảm
ngay lập tức giơ khiên lên. Khi thanh kiếm dày đập vào khiên, một âm thanh lớn vang lên. Nó cắm vào khiên.
Amir đã nương náu nơi Allah và hét lên, “Hỡi Allah!”, ông chém thanh kiếm của mình vào đôi chân bọc giáp của Marhab. Khi thanh kiếm chạm vào bộ giáp thép, nó bung ra và đập vào chân của sahabi này. Lực giật mạnh của thanh kiếm đã cắt đứt động mạch ở chân của Hadrat Amir. Các Ashab al-kiram chạy đến và bế Amir lên. Họ đưa ông về doanh trại để điều trị. Tuy nhiên, Amir đã đạt được bậc tử vì đạo ở đó và lên Thiên đàng.17
Trận chiến tiếp tục diễn ra ác liệt. Buổi tối, Vị tiên tri kính yêu của chúng ta đã đề nghị với những người Ghatfanite đa thần giáo, gồm bốn ngàn binh lính tham gia cuộc chiến để giúp người Do Thái, hãy rời đi và trở về quê hương của họ. Ông cũng hứa sẽ cho họ một năm thu hoạch chà là của Khaybar nếu họ làm như vậy. Tuy nhiên, những người Ghatfanite đã từ chối lời đề nghị này. Sau đó, Chúa tể của vũ trụ (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) đã ra lệnh cho các Ashab ở lại qua đêm quanh pháo đài nơi những người Ghatfanite đang ở. Những người Ghatfanite, lo sợ rằng những người mujahid có thể tấn công vào ban đêm, không thể ngủ được. Đêm đó, một giọng nói từ đâu không rõ, báo rằng quê hương của những người Ghatfanite đã bị đột kích, và gia đình và tài sản của họ đã bị tước đoạt. Lời này được lặp lại ba lần, và tất cả những người Ghatfanite đã lắng nghe trong kinh hoàng. Uyayna, chỉ huy của họ, cũng đã nghe thấy giọng nói này, và trước bình minh, ông đã tập hợp những người lính. Họ vội vã rời khỏi Khaybar và lên đường trở về quê hương. Vào buổi sáng, người Do Thái ngạc nhiên và tuyệt vọng khi thấy người Ghatfan rời khỏi Khaybar mà không có lý do. Họ rất hối hận khi đã gọi người Ghatfan đến giúp.
Sự anh hùng của Hadrat Ali
Hôm ấy, cũng có những cuộc đụng độ dữ dội trước Khaybar. Nhưng pháo đài này không thể bị chinh phục. Vào buổi tối, Vua của vũ trụ đã đưa ra tin vui, nói rằng, “Ngày mai, Ta sẽ trao lá cờ cho một người thật dũng cảm, người yêu Allahu ta'ala và Rasul của Người. Và Allahu ta'ala và Rasul của Người yêu người ấy. Allahu ta'ala sẽ thực hiện sự chinh phục bằng chính đôi tay của người ấy!”
Đêm đó, Ashab al-kiram háo hức chờ sáng. Mỗi người đều hy vọng rằng hiệu kỳ sẽ được trao cho mình và cầu xin Allahu ta’ala vì điều này. Hadrat Bilal al-Habashi đọc adhan cho lễ namaz sáng bằng giọng đọc cảm động và tuyệt vời của mình. Trong khi adhan đang được đọc, một cảm giác độc đáo, một niềm vui độc đáo nảy sinh trong lòng mọi người. Đó là một niềm vui thiêng liêng. Vị tiên tri kính yêu của chúng ta đã đứng dậy và sau khi chủ lễ namaz sáng cho Ashab của mình. Ngài ra lệnh mang hiệu kỳ thiêng liêng của Islam đến. Trong khi hiệu kỳ thánh thiện đang được mang đến, Ashab al-kiram đã đứng và chờ đợi với sự tò mò để nghe những lời sẽ phát ra từ đôi môi ân phước của Vị tiên tri kính yêu của chúng ta. Cuối cùng, Chủ tể của thế giới nói, “Ta thề có Allahu ta’ala, Đấng đã tôn vinh Muhammad với sứ mệnh tiên tri, ta sẽ trao hiệu kỳ này cho một người dũng cảm không hề biết chạy trốn.” Sau đó, Ngài quét mắt qua Ashab của mình và hỏi, “Ali đâu rồi?” Các sahabi trả lời, “Hỡi Rasulallah! Mắt anh ấy đau.” Giáo chủ của chúng ta nói, “Hãy gọi ông ấy đến với ta.” Vào những ngày đó, Hadrat Ali bị đau mắt và không thể mở mắt. Họ đến gặp ông và thông báo cho ông ấy về tình hình. Giữ chặt đôi tay được ban phước của ông ấy, họ đưa ông đến diện kiến Rasulullah. Vương của vũ trụ cầu nguyện Allahu ta'ala để chữa lành cho Hadrat Ali. Ngài làm ướt những ngón tay ân phước của mình trong miệng và áp chúng vào mắt ông ấy. Vào lúc đó, mọi cơn đau trong mắt Hadrat Ali biến mất. Ngoài ra, Tiên tri của chúng ta đã cầu nguyện cho ông ấy, “Hỡi Rabb! Xin hãy loại bỏ những rắc rối của nóng và lạnh khỏi người này.” Sau đó, Ngài mặc áo giáp cho Hadrat Ali bằng đôi tay ân phước của mình, thắt chính thanh kiếm của mình vào lưng cho ông ấy và trao cho ông lá cờ trắng của Islam, nói rằng, “Hãy chiến đấu cho đến khi Allahu ta'ala ban cho ông chiến thắng. Đừng bao giờ lùi bước!”
“Ta là người mà mẹ ta đặt tên ta là Haydar (Sư tử). Ta như một con sư tử oai nghiêm!”
Hadrat Ali
(radiy-Allahu
’anh)
Hadrat Ali nói: “Nguyện hy sinh mạng sống của tôi vì Ngài, hỡi Rasulallah! Tôi sẽ chiến đấu với họ cho đến khi họ chấp nhận tôn giáo Islam.” Đấng Tiên tri kính yêu của chúng ta đáp lại: “Ta thề bởi Allah rằng, việc Allahu ta’ala hướng dẫn chỉ một người trong số họ nhờ vào con còn tốt hơn nhiều so với việc con sở hữu nhiều con lạc đà đỏ và đem chúng làm sadaqa trên con đường của Allahu ta’ala.”18
Trong khi Hadrat Ali đang tiến về phía pháo đài của người Do Thái với hiệu kỳ trên tay, các sahabi vinh quang đã đi theo ông. Khi họ đến gần pháo đài và hiệu kỳ được dựng lên bên cạnh một tảng đá, các cánh cổng của pháo đài Natat đã mở. Lực lượng tấn công của người Do Thái đã xuất hiện. Họ là những tay lỗi lạc nhất của Khaybar. Tất cả đều mặc hai lớp áo giáp. Một trong số họ đã tiến về phía Hadrat Ali và dừng lại trước mặt ông để chiến đấu. Đó là Harith, anh trai của Marhab, người có lòng dũng cảm không ai sánh bằng. Hắn đã tấn công nhanh... Khi âm thanh của hai thanh thép vang vọng khắp chiến trường, người ta thấy Zulfikar lao đến như tia chớp và chém rơi đầu Harith. Lúc này, âm thanh “Allahu akbar! Allahu akbar!” vang vọng khắp đất trời.
Nghe tin em trai mình đã tử trận, Marhab bước ra chiến trường cùng với thuộc hạ của mình. Hắn ta đứng trước mặt Hadrat Ali. Hắn cũng mặc hai lớp áo giáp. Với hai thanh kiếm và thân hình to lớn, hắn trông giống như một người khổng lồ. Hắn bắt đầu khoe khoang với tất cả sự tức giận của mình, “Ta là Marhab, người tiến lênphía trước và dũng cảm chiến đấu khi trận chiến khốc liệt nhất! Ta đâm thủng cả những con sư tử rống bằng giáo hoặc kiếm của mình!”
Sư phụ Hadrat Ali (karram-Allahu wajhah wa radiy-Allahu ‘anh) của chúng ta trả lời, “Ta là người mà mẹ ta đặt tên cho ta là Haydar (Sư tử). Ta như một con sư tử oai nghiêm! Ta là nhà vô địch sẽ hạ gục mi chỉ bằng một đòn!”
Khi Marhab nghe từ Haydar từ Hadrat Ali, trái tim hắn tràn ngập nỗi sợ hãi. Bởi vì, trong giấc mơ đêm trước đó, hắn đã bị một con sư tử xé xác. Người này có phải là con sư tử mà hắn mơ thấy không? Vào lúc đó, gã khổng lồ Marhab tấn công, và Hadrat Ali đã dùng khiên để chống trả. Sau đó, nương náu trong Allahu ta’ala, nói rằng, “Hỡi Allah!”, xin hãy đập vào đầu tên ngoại đạo này bằng Zulfikar mạnh đến nỗi khiên thép dày của Marhab đang cầm trên tay để chống đỡ Zulfikar và mũ sắt của hắn sẽ bị nứt ra, và đầu hắn bị chẻ làm đôi, xuống tận cổ. Người ta thấy máu chảy ra từ cổ hắn và cơ thể khổng lồ của hắn ngã xuống đất. Âm thanh kinh hoàng phát ra từ Zulfikar đã được nghe thấy khắp Khaybar.
Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta nói, “Hãy vui mừng! Bây giờ, cuộc chinh phục Khaybar đã trở nên dễ dàng hơn.” Các Ashab al-kiram kinh ngạc trước sự dũng mãnh của Hadrat Ali, và những tiếng reo hò “Allahu akbar! Allahu akbar!” của họ vang khắp bầu trời.
Trận chiến vẫn tiếp diễn ác liệt. Trong khi các Ashab al-kiram đang chiến đấu và tiến gần đến cổng pháo đài, một người Do Thái đã dùng kiếm đánh vào khiên của Hadrat Ali. Chiếc khiên rơi xuống đất. Nhưng không có thời gian để nhặt nó lên. Không muốn bỏ lỡ cơ hội, người Do Thái đã chộp lấy chiếc khiên và chạy về. Sư tử của Allahu ta'ala không vui vì điều này. Sau khi đánh tan kẻ thù xung quanh bằng thanh kiếm Zulfikar của mình, ông định dùng cổng pháo đài làm khiên. Đọc rằng, “Bismillahirrahmanirrahim”, ông kéo các vòng của cánh cổng sắt khổng lồ. Ông kéo những cái móc ra khỏi tường. Trong khi Hadrat Ali đang kéo cổng ra, pháo đài rung chuyển. Cánh cổng mà tám hoặc mười người đàn ông không thể di chuyển, ông đã dùng làm khiên bằng một tay và bắt đầu chiến đấu. Sự việc đáng kinh ngạc này là một mu'jiza (phép lạ) của Tiên tri kính yêu của chúng ta và là một karamat19 của bậc thầy Hadrat Ali của chúng ta.
Sáu nhà vô địch dũng cảm nhất của người Do Thái lần lượt xuất hiện trước mặt ông. Hadrat Ali, người đã đánh bại họ với sự cho phép của Allahu ta'ala, tiến vào pháo đài cùng với những chiến hữu anh hùng của mình. Bây giờ họ đang chiến đấu bên trong pháo đài. Trong một thời gian ngắn, không còn ai đối mặt với họ. Họ giương cao hiệu kỳ Islam trên pháo đài. Thế là, Natat, pháo đài mạnh nhất của họ, đã bị chinh phục.
Sau khi hôn lên mắt Hadrat Ali, Vị tiên tri kính yêu của chúng ta nói: “Vì sự dũng cảm mà ông đã thể hiện, Allahu ta'ala và Rasul của Người hài lòng về ông.” Nghe những lời ân phúc này, Hadrat Ali đã khóc vì sung sướng. Khi Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta hỏi, “Tại sao ông khóc?” ông ấy trả lời: “Xin hy sinh mạng sống của tôi cho Ngài, hỡi Rasulallah! Tôi đang khóc vì vui sướng. Bởi vì Allahu ta'ala và Sứ giả của Người hài lòng về tôi.” Lúc này, Nhà tiên tri kính yêu của chúng ta nói: “Không chỉ ta, mà cả Jabrail, Mikail và tất cả các thiên thần đều hài lòng về ông.”
Trong khi đó, bốn trăm người Muslim từ bộ tộc Daws đã đến giúp đỡ Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta.20 Sau đó, giao tranh tiếp tục diễn ra ác liệt nhằm chinh phục các pháo đài khác. Khi bảy pháo đài kiên cố còn lại của Khaybar lần lượt thất thủ, những người Do Thái tuyệt vọng đã cử một phái đoàn đến yêu cầu hòa bình. Tiên tri của chúng ta (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) đã chấp nhận đề xuất này và họ đã đồng ý về các điều khoản sau:
Máu của những người Do Thái trong cuộc chiến chống lại những người Muslim sẽ không đổ.
Những người Do Thái rời Khaybar sẽ chỉ mang theo con cái của họ và một con lạc đà chở những đồ dùng gia đình cần thiết bên mình.
Toàn bộ của cải còn lại; tất cả các loại vũ khí như giáp, kiếm, khiên, cung tên; quần áo ngoại trừ thứ họ đang mặc; vải, vàng, châu báu; tất cả gia súc như ngựa, lạc đà, cừu... mọi thứ sẽ để lại cho người Muslim.
Bất cứ thứ gì nên để lại cho người Muslim thì không được giấu giếm dưới bất kỳ hình thức nào. Những người che giấu chúng sẽ bị loại khỏi sự đảm bảo và bảo vệ an ninh của Allahu ta'ala và Rasul của Người...
Kinana ibn Rabi, ai không tuân thủ các điều này và chôn của cải của mình xuống đất bằng da dê, đã bị trừng phạt. Chiến lợi phẩm thu về nhiều vô kể. Những vùng đất màu mỡ và những vườn chà là ở Khaybar hoàn toàn được giao cho quân Islam.21
“Hỡi! Các Ashab! Bỏ tay ra khỏi đĩa thức ăn này! Vì ta biết rằng miếng thịt này có độc.”
Hadith
ash-sharif
Trong lúc đó, bộ tộc Ghatfan, sau khi đã quay trở về quê hương, lại quay trở lại Khaybar để giúp người Do Thái. Khi họ thấy rằng Giáo chủ của chúng ta đã chinh phục Khaybar và khuất phục người Do Thái, họ nói: “Hỡi Muhammad! Ngài đã hứa sẽ cho chúng tôi một năm hoa lợi từ vụ mùa chà là ở Khaybar nếu chúng tôi rời khỏi Khaybar. Chúng tôi đã giữ lời hứa. Bây giờ, hãy giao chúng cho chúng tôi!” Giáo chủ của chúng ta đáp: “Ngọn núi kia sẽ thuộc về các ngươi.” Người Ghatfan dọa dẫm: “Vậy thì chúng tôi sẽ chiến đấu với ngài!” Giáo chủ Rasul al-akram đáp lại: “Janafa sẽ là chiến trường của chúng ta.” Janafa là tên của một vùng thuộc bộ tộc Ghatfan. Khi người Ghatfan nghe điều đó, họ sợ hãi và bỏ đi.
Nhà tiên tri kính yêu của chúng ta (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) và các Ashab anh hùng của Ngài đã rất mệt mỏi sau cuộc chinh phục Khaybar. Trong khi những người bị thương đang được điều trị, những người khác đang nghỉ ngơi. Zaynab, vợ của Sallam ibn Mishkam, một trong những nhân vật tiếng tăm của người Do Thái, muốn giết Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta bằng cách đầu độc Ngài. Để làm điều này, bà ấy đã giết một con cừu, nấu chín và thêm một lượng lớn chất độc vào thịt. Sau đó, bà đến gặp Giáo chủ Rasulullah của chúng ta và nói rằng bà có mang theo một món quà. Giáo chủ Rasul al-akram của chúng ta đã chấp nhận nó và gọi các Ashab của Ngài. Mọi người cùng nhau ngồi ăn.
Chủ nhân của vũ trụ lấy một miếng thịt cừu kebab và nói: “Bismillahirahmanirrahim” Ngài đặt nó vào miệng ân phước của Ngài. Sau khi nhai nó vài lần, Ngài lập tức lấy nó ra khỏi miệng ân phước của mình và nói: “Hỡi Ashab! Bỏ tay ra khỏi đĩa thức ăn này! Vì ta biết rằng miếng thịt này có độc.”
Các sahabi ngay lập tức rút tay ra khỏi đĩa. Tuy nhiên, sau khi ăn một miếng thịt, cơ thể của Hadrat Bishr ibn Bara lập tức chuyển sang màu tím và trở thành một vị tử đạo. Jabrail 'alaihis-salam đã đến gặp Vị tiên tri yêu quý của chúng ta và bảo Ngài lấy máu từ giữa hai vai của Ngài bằng cách trích máu để loại bỏ tác dụng của chất độc lẫn trong nước bọt ân phước của Ngài. Nó đã có tác dụng. Sau đó, thịt tẩm độc được chôn xuống đất. Zaynab, người chịu trách nhiệm về vụ đầu độc này, đã bị bắt và đưa đến gặp Vị tiên tri của chúng ta. Giáo chủ của chúng ta hỏi bà ấy: “Bà có đầu độc thịt cừu kebab không?” Bà thú nhận: “Đúng vậy! Tôi đã đầu độc nó!” Khi Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta hỏi: “Tại sao bà lại muốn làm thế!” bà trả lời, “Ngài đã giết chồng tôi, bố tôi, chú tôi. Tôi tự nhủ: ‘Nếu Ngài thực sự là một nhà tiên tri, Allahu ta'ala sẽ thông báo cho Ngài. Nếu không, chất độc này sẽ ảnh hưởng đến Ngài và Ngài sẽ chết. Như vậy, chúng tôi sẽ loại bỏ được Ngài.’” Các Ashab rất đau buồn trước sự cố này. Khi họ hỏi: “Xin hy sinh mạng sống của chúng tôi cho Ngài, Hỡi Rasulallah! Chúng ta có nên giết người phụ nữ này không?” Chủ nhân của các thế giới, người đã tha thứ mọi xúc phạm đến chính Người, cũng đã tha thứ cho bà ấy. Nhìn thấy lòng thương xót to lớn này, Zaynab đã trở thành một người Muslim bằng việc đọc câu Kalima ash-shahada.22
Safiyya, con gái của Huyay ibn Akhtab nằm trong số chiến lợi phẩm và tù binh bị bắt giữ ở Khaybar. Là người thừa kế hợp lệ của tổng tư lệnh, cô đã rơi vào phần của Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta. Chủ nhân của thế giới đã giải thoát cô. Cô rất cảm động và chân thành trở thành một người Muslim bằng việc đọc Kalima ash-shahada. Vị tiên tri kính yêu của chúng ta rất vui với chuyện này, đã tôn vinh Hadrat Safiyya bằng việc kết hôn của Ngài và làm cho cô hạnh phúc. Do đó, Hadrat Safiyya đã trở thành mẹ của các tín đồ. Đám cưới được tổ chức tại khu vực Sahba, và một bữa tiệc cưới đã được phục vụ gồm dưa và chà là.23
Có một vết bầm tím quanh đôi mắt phước lành của mẹ Hadrat Safiyya của chúng ta. Khi Vị tiên tri kính yêu của chúng ta hỏi, “Vết này là gì?” cô nói, “Một đêm nọ, tôi mơ thấy mặt trăng từ trên trời rơi xuống và đi vào ngực tôi. Khi tôi nói với chồng tôi là Kanana, anh ấy đánh vào mắt tôi, nói rằng, ‘Mày đã để mắt đến việc trở thành vợ của người cai quản Ả Rập đang chống lại chúng ta!’ và, như Ngài thấy đó, nó đã bị bầm tím.”
Sau khi Khaybar bị chinh phục, người Do Thái đã nói với Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta, “Hỡi Muhammad! Chúng tôi sẽ rời khỏi Khaybar. Tuy nhiên, chúng tôi biết rõ về nông nghiệp, việc duy trì các cánh đồng và khu vườn. Nếu Ngài muốn, hãy cho chúng tôi thuê những vùng đất màu mỡ này. Chúng tôi sẽ làm việc trên những vùng đất này và chia cho các người một nửa mùa màng!” Vị tiên tri và các sahabi đáng kính của chúng ta không có thời gian để giải quyết công việc đồng áng. Họ đang nỗ lực truyền bá Islam và cho cuộc thánh chiến fi sabilillah24. Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đã hài lòng với lời đề nghị này và nói, “Với điều kiện là chúng tôi sẽ trục xuất các người bất cứ khi nào chúng tôi muốn.” Người Do Thái đã chấp nhận điều này và bắt đầu làm việc trên vùng đất Khaybar.25
Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta và Ashab của Ngài, đã chiến thắng trở về Medina.
Vào thời điểm đó, người Ashab cuối cùng còn lại ở Abyssinia, Umm Habiba radiy-Allahu ‘anha và Muhajir, dưới sự chăm sóc của Ja’far ibn Abi Talib, đã lên hai con tàu do Negus cung cấp và cập cảng Jar. Họ lên lạc đà và đến Medina. Tiên tri của chúng ta rất vui khi Ngài thấy Ashab của Ngài, người đã di cư đến Abyssinia mười hai năm trước, đã đến dưới sự dẫn dắt của Ja’far ibn Abi Talib. Ngài hôn trán Hadrat Ja’far, ôm anh ta và nói:
“Ta không biết đang vui mừng về việc chinh phục Khaybar hay sự xuất hiện của Ja’far. Ông đã hai lần di cư. Ông đã di cư đến cả Abyssinia và quê hương của ta.” Họ đã đưa những món quà và thư mà Negus Ashama gửi cho Rasulullah. Đám cưới của Ngài với mẹ của chúng ta Umm Habiba cũng diễn ra trong năm này. Lúc đó bà ấy ba mươi sáu tuổi.
Chiến lợi phẩm thu được ở Khaybar được phân phát cho tất cả Ashab al-kiram tham dự Hiệp ước hòa bình Hudaybiya, cho những người tham gia Thánh chiến Khaybar, cho những Ashab di cư đến Abyssinia và cho bộ tộc Daws tham gia cuộc chinh phạt.26
Với cuộc chinh phục Khaybar, tất cả người Do Thái ở Ả Rập đã nằm dưới sự kiểm soát của Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta. Bây giờ, họ hết cách để giúp những người đa thần giáo. Các bộ lạc và quốc gia xung quanh cũng đã biết được những người Muslim đã chiếm pháo đài Khaybar, nơi dường như không thể chinh phục được về mặt vũ khí và quân lính, dù có sức mạnh to lớn và bắt đầu sợ Nhà nước Islam này. Những người đa thần giáo ở Mecca đã vô cùng buồn bã và tuyệt vọng sau việc chinh phục Khaybar. Sau cuộc chinh phục này, nhiều bộ lạc, lớn và nhỏ, đã đến Medina al-Munawwarah để trở thành người Muslim và được vinh dự trở thành Ashab al-kiram, thậm chí có cả người Ghatfanite... Một số bộ lạc không quy phục đã bị khuất phục bởi những lực lượng được phái đến chống lại họ.
Sự kiện Layla tại Ta’ris
“ Ta không nâng cánh cổng pháo đài Khaybar bằng sức lực cơ thể mà bằng sức mạnh tinh thần .”
Hadrat Ali
(radiyallahu
‘anh)
Trên đường trở về từ Thánh chiến Khaybar, họ dừng lại ở địa điểm Ta’ris. Đêm đó, Rasulullah gọi Hadrat Bilal và nói, “Hỡi Bilal! Đừng ngủ đêm nay. Hãy thức đến sáng và đánh thức mọi người dậy để cầu nguyện.” Sau đó, Rasulullah đi ngủ với Ashab của Ngài. Hadrat Bilal cầu nguyện một lúc. Ông quay mặt về phía đông và dựa lưng vào đống đồ của mình. Trong khi chờ đến giờ cầu nguyện, ông ngủ thiếp đi.
Họ mệt đến nỗi không thể mở mắt cho đến khi tia nắng mặt trời rọi ấm trái đất và chiếu vào mặt họ. Trước tất cả mọi người, Rasulullah đã thức dậy. Họ đứng dậy và thực hiện thanh tẩy. Hadrat Bilal đọc qamat. Là một jama'at, họ thực hiện qada của lễ nguyện buổi sáng.
Sau khi cầu nguyện, Rasulullah (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) nói, “Nếu ai đó quên cầu nguyện, người ấy nên thực hiện ngay khi nhớ ra. Bởi vì Haqq ta’ala đã nói, ‘akimi’s-salata li dhikri (thực hiện cầu nguyện để nhớ đến Ta, để tưởng nhớ đến sự vĩ đại của Ta).’”
Mặt trời quay trở lại với Hadrat Ali
Trên đường trở về từ Thánh chiến Khaybar, Rasulullah (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) đang nghỉ ngơi tại Sahba. Ngài đã đặt đầu phước lành của Ngài lên đùi Hadrat Ali. Vào lúc đó, một khải thị bắt đầu ban xuống. Mặt trời đã ở đường chân trời. Hadrat Ali (radiy-Allahu ‘anh) vẫn chưa thực hiện lễ nguyện buổi chiều của mình.
Khi sự mặc khải hoàn tất, mặt trời lặn. Rasulullah cầu nguyện, “Hỡi Rabb! Nếu Ali thuộc về Người và Rasul của Người, xin hãy quay mặt trời trở lại.” Allahu ta'ala đã chấp nhận lời cầu nguyện của Ngài. Sau khi Hadrat Ali thực hiện lễ nguyện, mặt trời lại lặn. Asma bint Umays nói, “Tôi đã thấy rằng sau khi đã lặn, mặt trời lại mọc và chiếu sáng trái đất.”
Thánh chiến Wadi al-Qura
Trận chiến này xảy ra ở Wadi al-Qura vào tháng Jamad’al-akhir. Người Do Thái trong vùng, những người nghe tin Rasulullah đã đến Wadi al-Qura cùng với những đội quân Islam, đã chuẩn bị chiến đấu với sự giúp đỡ của một nhóm người đa thần giáo Ả Rập. Họ rời khỏi nơi của mình và bắt đầu cho đội hình chiến đấu.
Nhà tiên tri ‘alaihis-salam đã ra lệnh cho đội hình chiến đấu và trao hiệu kỳ cho một trong những Ashab. Ông kêu gọi những kẻ vô tín theo Islam. Ngài nói, “Nếu các người đến với đức tin, các người sẽ tự cứu mình và tài sản của mình.” Họ không chấp nhận lời khuyên. Một trong những người theo đa thần đã tiến lên và yêu cầu chiến đấu. Zubayr ibn Awwam radiy-Allahu ‘anh đã giết hắn. Một người khác đối mặt với Hadrat Ali. Hadrat Imam ngay lập tức đưa kẻ vô tín đó vào lửa của Địa ngục. Một người khác tiến lên. Ông cũng giết hắn. Abu Dujana radiy-Allahu ‘anh đã giết hai người Do Thái. Ngày hôm đó, mười lăm kẻ vô tín đã chết.
Khi chiều đến, mọi người trở về doanh trại. Vào buổi sáng, hai bên rút kiếm và chuẩn bị chiến đấu. Khi mặt trời cao bằng một ngọn giáo, những kẻ vô đức tin sợ hãi bỏ chạy. Những thánh chiến binh đã thu được nhiều của cải và chiến lợi phẩm. Người Do Thái ở Tayma sợ sẽ chung số phận như người Do Thái ở Wadi al-Qura. Họ đồng ý trả jizya để bảo vệ tài sản của mình, và một thỏa thuận ngừng chiến đã được lập.
