Vị Tiên tri Kính yêu của tôi

NHỮNG PHÉP LẠ CỦA GIÁO CHỦ, TIÊN TRI CỦA CHÚNG TA

Bằng chứng chứng minh rằng tiên tri đáng kính của chúng ta Muhammad ‘alaihis-salam là Vị tiên tri của Allahu ta’ala nhiều không đếm xuể. Allahu ta’ala đã nói, “Nếu không vì ngươi, ta đã không tạo ra vũ trụ!”1 Cũng như tất cả các tạo vật đều minh chứng cho sự tồn tại và tính duy nhất của Allahu ta’ala, chúng cũng thể hiện sứ mệnh tiên tri và sự xuất chúng của Muhammad ‘alaihis-salam. Tất cả các karamat (những điều phi thường mà Allah tạo ra) xảy ra thông qua awliya của cộng đồng của Ngài đều là phép lạ của Ngài (mujizas). Bởi vì karamat xảy ra thông qua những người theo Ngài và thích nghi với Ngài. Quả thật, bởi vì tất cả các tiên tri khác (‘alaihimus-salawatu wattaslimat) đều muốn thuộc cộng đồng của Ngài, hay đúng hơn, bởi vì tất cả họ đều được tạo ra từ hào quang của Ngài, nên phép lạ của họ cũng xem như là một trong những phép lạ của Muhammad ‘alaihis-salam.

Những phép lạ của Vị tiên tri đáng kính của chúng ta Muhammad ‘alaihis-salam được chia thành ba loại theo thời gian:

Thứ nhất, những phép lạ bắt đầu từ khi linh hồn ân phước của Ngài được tạo ra cho đến thời điểm của bi’that khi Ngài được thông báo về chức tiên tri của mình.

Thứ hai, những phép lạ trong khoảng thời gian giữa bi’that và thời điểm Ngài qua đời.

Thứ ba, những phép lạ đã và sẽ xảy ra từ khi Ngài qua đời cho đến tận thế.

Loại thứ nhất được gọi là irhas. Mỗi loại lại được chia thành hai loại: Những phép lạ đã được mọi người chứng kiến ​​và những phép lạ được suy luận ra. Các phép lạ nhiều đến mức không thể đếm nổi. Loại thứ hai được ước tính khoảng ba nghìn. Liệt kê dưới đây là một số phép lạ nổi tiếng:

1- Phép lạ vĩ đại nhất của Muhammad ‘alaihis-salam chính là Qur’an al-karim. Cho đến ngày nay, tất cả các nhà thơ và văn nhân đều bất lực và kinh ngạc trước câu chữ và ý nghĩa của Qur’an al-karim. Họ không thể sáng tác nổi một ayat al-karima tương đương. Văn phong và hùng biện của nó không giống như ngôn ngữ của con người. Nghĩa là, nếu chỉ bỏ ra hoặc thêm vào một từ, thì vẻ đẹp trong câu chữ và ý nghĩa của nó sẽ bị phá vỡ. Mọi nỗ lực thay thế dù chỉ một từ trong đó đều thất bại. Phong cách thơ ca của nó không giống bất kỳ nhà thơ Ả Rập nào. Nó thông báo về nhiều điều bí mật đã xảy ra trong quá khứ và sẽ xảy ra trong tương lai. Những ai nghe và đọc nó đều luôn muốn nghe thêm. Dù thể xác có thể mệt mỏi, nhưng họ không bao giờ thấy chán. Qua vô số trải nghiệm, người ta hiểu rằng việc đọc và nghe Qur’an làm dịu bớt những muộn phiền. Đã có những trường hợp người ta cảm thấy kinh hoàng và khiếp sợ trong lòng khi nghe Qur’an đến mức qua đời. Trái tim của nhiều kẻ thù cứng đầu nhất của đạo Islam đã trở nên mềm mại khi họ lắng nghe Qur’an al-karim, và họ đã đón nhận đức tin (iman).

Mặc dù có những kẻ thù của Islam và những kẻ zindiq (những kẻ không tin Islam giả vờ là người Muslim để cố gắng phá hủy Islam từ bên trong) với những cái tên Islam như là muattala, malahida và karamita đã cố gắng thay đổi Kinh Qur'an al-karim, làm sai lệch nó hoặc nói điều gì đó tương tự, hết thảy đều thất bại. Tawrat (Torah) và Injil (Kinh thánh) luôn bị con người thay đổi và vẫn đang được thay đổi. Những điều đẹp đẽ không thể có nhờ kiến ​​thức và kinh nghiệm, đạo đức, những đức tính mang lại sự vượt trội, lòng tốt sẽ dẫn đến hạnh phúc trên thế gian và akhirat, thông tin về sự khởi đầu và kết thúc của chúng sinh, và những điều lợi hoặc hại cho con người đều được nêu lên công khai hoặc ngầm định trong Kinh Qur'an al-karim. Chỉ có những bậc kiệt xuất về nó mới có thể hiểu được những ngầm định ấy.

Tất cả kiến ​​thức và bí ẩn được tìm thấy trong tất cả các thiên kinh, Tawrat, Zebur (Psalms) và Injil, đều được giải thích trong Qur'an al-karim. Chỉ có Allahu ta'ala biết tất cả kiến ​​thức có trong Qur'an al-karim. Người đã mặc khải hầu hết chúng cho Vị tiên tri yêu dấu của Người (sall-Allahu 'alaihi wa sallam). Ali và Husayn (radiy-Allahu ta'ala 'anhuma) tuyên bố rằng họ biết hầu hết kiến ​​thức này. Đọc Qur'an al-karim là một phước lành lớn lao. Allahu ta'ala đã ban phước lành này cho cộng đồng của Habib của Người. Các thiên thần bị tước mất phước lành này. Vì lý do này, họ tập trung tại những nơi mà Qur'an al-karim đang được đọc và lắng nghe. Tất cả các tafsir giải thích rất ít về kiến ​​thức trong Qur'an al-karim. Vào ngày phán xét, khi Muhammad ‘alaihis-sallam trèo lên bục giảng và đọc kinh Qur’an al-karim, những người lắng nghe sẽ hiểu được toàn bộ kiến ​​thức trong đó.

2- Một trong những phép lạ vĩ đại nhất của Muhammad ‘alaihis-salam là Ngài đã chia mặt trăng thành hai phần. Không có vị nabi nào khác được ban cho phép lạ này. Khi Muhammad ‘alaihis-salam được 52 tuổi, các thủ lĩnh của những kẻ không tin ở Quraysh tại Mecca đến gặp Ngài và nói: "Nếu ngài là một nabi, hãy chia mặt trăng thành hai phần." Đức Nabi yêu cầu mọi người, đặc biệt là người thân của Ngài, trở thành những người Muslim. Ngài giơ tay lên cầu nguyện. Allahu ta’ala đã chấp nhận lời cầu nguyện của Ngài và chia mặt trăng thành hai. Một nửa của nó xuất hiện trên một ngọn núi, nửa còn lại trên một ngọn núi khác. Những kẻ không tin nói: "Muhammad đã dùng phép thuật với chúng ta," và vẫn kiên quyết từ chối.

Một khổ thơ:
Khi chó thấy trăng, chúng sẽ sủa.
Sao ta lại đổ lỗi cho trăng? Nghe này!
Bạn biết đấy, chó sẽ luôn như thế!
Về điều này, một kẻ ngốc sẽ nghĩ gì.
Và một câu đối:
Ăn không thấy ngon là biểu hiện của việc mất sức khỏe,
Người không khoẻ sẽ thấy đắng với những thức uống ngon.

3- Trong một số trận chiến, những lúc thiếu nước, Muhammad ‘alaihis-salam đã nhúng bàn tay ân phước của Ngài vào nước trong bình, nước chảy ra từ giữa các ngón tay của Ngài, và cái bình luôn đầy nước. Số người uống nước đó có lẽ là tám mươi, có lẽ là ba trăm, có lẽ là một ngàn năm trăm, và ở Thánh chiến Tabuk, bảy mươi ngàn người và vật cởi. Khi Ngài rút bàn tay ân phước của mình ra khỏi nước, nó ngừng chảy.

4- Một ngày nọ, Ngài đến nhà của chú họ Abbas và ngồi cạnh ông và các con của ông. Ngài phủ ihram lên họ và nói, “Hỡi Rabb! Cũng như tôi đã che chú tôi và Ahl al-bayt của tôi, hãy bảo vệ họ khỏi ngọn lửa của Địa ngục.” Một giọng nói vang lên từ các bức tường nói, “Amin,” ba lần.2

5- Một hôm, có người yêu cầu Ngài cho họ thấy phép lạ, Ngài gọi một cái cây ở xa. Cái cây đến, kéo lê rễ của nó, chào Ngài và nói, “Ash-hadu an la ilaha ill-Allah, wa ash-hadu anna Muhammadan 'abduhu wa Rasuluh.” Sau đó, nó di chuyển trở lại vị trí của nó và tiếp tục đứng.

6- Trong Thánh chiến Khaybar, khi họ đặt thịt cừu nướng tẩm độc trước mặt Ngài, một giọng nói vang lên: “Hỡi Rasulallah (Hỡi Sứ giả của Allah)! Đừng ăn tôi, tôi có độc”.

7- Một ngày nọ, Ngài nói với một người đàn ông cầm tượng thần trên tay: “Anh có trở thành tín đồ nếu tượng thần nói chuyện với ta không?” Người đàn ông trả lời: “Tôi đã thờ phụng nó trong năm mươi năm, và nó chưa bao giờ nói một lời nào với tôi. Làm sao nó có thể nói chuyện với Ngài bây giờ?” Khi Muhammad 'alaihis-salam hỏi: “Hỡi tượng thần! Ta là ai?”, một giọng nói vang lên: “Ngài là tiên tri của Allah”. Chủ sở hữu của tượng thần đã trở thành một người Muslim ngay lập tức.

“Hỡi Rabb! Cũng như con đã che chở cho chú của con (Abbas) và Ahl al-bayt của con, xin hãy bảo vệ họ khỏi ngọn lửa
Địa ngục.”
Hadith
ash-sharif

8- Có một gốc cây chà là ở Masjid an-Nabawi (Nhà thờ Islam Tiên tri) tại Medina. Rasulullah (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) thường dựa vào gốc cây đó bất cứ khi nào Ngài giảng (bài giảng được gọi là) khutba. Gốc cây được gọi là Hannana. Khi một bục giảng được tạo ra, Ngài đã không đến Hannana để dựa vào nó. Toàn bộ jama’at đã nghe thấy tiếng khóc phát ra từ nó. Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đã đi xuống từ bục giảng và ôm Hannana. Nó đã ngừng khóc. Ngài nói, “Nếu ta không ôm nó, việc xa rời ta sẽ khiến nó khóc cho đến ngày phán xét.”

Những phép lạ như vậy đã được chứng kiến ​​và được kể nhiều lần.

9- Người ta đã nhiều lần chứng kiến ​​ sỏi mà Ngài nhặt lên và thức ăn mà Ngài cầm trên tay cũng đều tôn vinh Allahu ta’ala (tasbih), âm thanh giống như của một con ong.

10- Một ngày nọ, một người vô tín đến gặp Ngài và nói, “Làm sao tôi biết rằng Ngài là một tiên tri?” Rasulullah (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) hỏi, “Nếu ta gọi chùm trên cây chà là này và nó đến, ngươi có tin không?” Người vô tín kia trả lời rằng ông ta sẽ trở thành một tín đồ. Rasulullah gọi chùm chà là, và nó nhảy đến. Khi Ngài nói, “Hãy trở về chỗ của ngươi”, nó đã bay lên chỗ của nó và ở đó như trước. Khi nhìn thấy điều này, người vô tín kia đã trở thành một tín đồ.

11- Tại Mecca, một vài con sói đã cướp đi một số cừu. Khi người chăn cừu lao vào chúng và giành lại đàn cừu, một trong những con sói đã nói, “Các người đang cướp mất nguồn thức ăn mà Allahu ta'ala đã gửi đến cho chúng ta, các người không sợ Allahu ta'ala sao?” Kinh ngạc, người chăn cừu lẩm bẩm, “Ồ hay, sói biết nói!” Con sói tiếp tục, “Ta sẽ cho ông biết một điều thậm chí còn đáng ngạc nhiên hơn? Muhammad (sall-Allahu ta'ala 'alaihi wa sallam), Vị tiên tri của Allahu ta'ala, đang thực hiện những phép lạ ở Medina.” Người chăn cừu đến và kể điều này với Rasulullah (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) và trở thành Muslim.

12- Trong khi Giáo chủ Muhammad sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam của chúng ta đang đi trên đồng cỏ, Ngài nghe thấy một giọng nói, “Hỡi Rasulallah!” ba lần. Ngài quay về hướng giọng nói và thấy một con nai bị trói. Một người đàn ông đang ngủ bên cạnh nó. Người hỏi con nai muốn gì. “Thợ săn này đã bắt được tôi,” con nai nói. “Tôi có hai đứa con trên đồi kia. Xin hãy thả tôi đi! Tôi sẽ đi, cho chúng bú và quay lại.” Rasul ‘alaihis-salam hỏi, “Ngươi có giữ lời hứa và quay lại không?” Con nai nói, “Tôi hứa với Allah, nếu tôi không quay lại, xin cơn thịnh nộ của Allah giáng xuống tôi!” Rasulullah thả con nai ra. Một lúc sau nó đến. Khi người đàn ông thức dậy và hỏi, “Hỡi Rasulallah! Ngài có lệnh gì cho tôi không?” Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta nói, “Hãy thả con nai này ra!” Người đàn ông cởi trói cho con nai và thả nó đi. Con nai nói: “Ash-hadu an la ilaha ill-Allah wa annaka Rasulullah,” rồi bỏ đi.

13- Một ngày nọ, Ngài mời một người dân quê đến với đức tin. Người đó nói, “Nếu Ngài làm sống lại đứa con gái đã chết của một người hàng xóm Muslim của tôi, tôi sẽ trở thành một tín đồ.” Họ đến mộ của cô gái. Rasulullah gọi cô gái bằng cách nói tên của cô. Đầu tiên, một giọng nói vang lên từ bên trong ngôi mộ, và cô gái bước ra. Giáo chủ Rasulallah của chúng ta hỏi, “Ngươi có muốn quay trở lại thế gian không?” Cô gái nói, “Hỡi Rasulallah! Tôi không muốn quay trở lại thế gian. Tôi ở đây thoải mái hơn là ở nhà cha tôi. Akhirat (kiếp sau) của một người Muslim tốt hơn cuộc sống trần tục của người ấy.” Khi người dân quê nhìn thấy điều này, anh ta ngay lập tức trở thành một người Muslim.

14- Jabir ibn Abdullah (radiy-Allahu ta’ala ‘anh) nướng một con cừu. Rasulullah (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) và Ashab của Ngài đã ăn nó. Ngài nói, “Đừng bẻ gãy xương đó.” Ngài gom những chiếc xương lại với nhau, đặt bàn tay ân phước của Ngài lên chúng và cầu nguyện. Allahu ta’ala đã hồi sinh con cừu.

15- Họ mang đến cho Rasulullah một đứa trẻ không nói gì cả mặc dù nó đã lớn. “Ta là ai?”, Vị tiên tri của chúng ta hỏi. Đứa trẻ trả lời, “Ngưài là Rasulullah.” Từ đó trở đi, nó bắt đầu nói và không mất khả năng nói cho đến khi chết.

16- Có người giẫm phải trứng rắn và bị mù. Họ đưa ông đến gặp Rasulullah (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam). Khi Ngài nhỏ nước bọt ân phước của Ngài vào mắt người đàn ông, ông bắt đầu nhìn thấy trở lại. Quả thực, khi ông đã tám mươi tuổi vẫn có thể xỏ kim.

17- Muhammad ibn Khatib kể lại, “Khi tôi còn trẻ. Nước sôi đổ vào người tôi và làm bỏng cơ thể tôi. Cha tôi đưa tôi đến gặp Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam). Ngài bôi nước bọt của Ngài vào vùng bị bỏng bằng đôi tay ân phước của Ngài và cầu nguyện. Vết bỏng lành ngay lập tức.”

18- Một người phụ nữ mang đứa con trai hói của mình đến. Rasulullah xoa nhẹ đôi tay ân phước của Ngài lên đầu cậu bé. Cậu bé lành bệnh. Tóc cậu bắt đầu mọc.

19- Sách “Sunan” của Tirmidhi và Nesai có chép: Một ngày nọ, một người mù cả hai mắt đến gặp Ngài và nói, “Hỡi Rasulallah! Xin hãy cầu nguyện cho tôi được sáng mắt trở lại.” Giáo chủ của chúng ta thương hại anh ta; Ngài bảo anh ta thực hiện một thanh tẩy hoàn hảo, sau đó đọc lời cầu nguyện sau, “Hỡi Rabb (Lạy Thượng đế của con)! Cầu xin Người. Cầu xin Người thông qua sự cầu thay của Vị tiên tri yêu dấu của Người là Muhammad ‘alaihis-salam. Hỡi Hadrat Muhammad ‘alaihis-salam, người mà tôi vô cùng yêu quý! Tôi cầu xin Rabb thông qua Ngài. Tôi cầu xin Người chấp nhận lời cầu nguyện của tôi vì lợi ích của Ngài. Hỡi Rabb! Hãy để Vị tiên tri cao quý này làm người cầu thay của con! Vì lợi ích của Ngài ấy, hãy chấp nhận lời cầu nguyện của con!” Khi người đàn ông thực hiện việc thanh tẩy và đọc lời cầu nguyện, anh ta bắt đầu nhìn thấy. Người Muslim luôn đọc lời cầu nguyện này và đạt được mong muốn của họ.

20- Một ngày nọ, Rasulullah và (chú của Ngài) Abu Talib đang đi qua một sa mạc. Abu Talib nói rằng ông rất khát. Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam) xuống khỏi con vật và hỏi, “Ngươi có khát không?” Khi Ngài chạm đất bằng gót chân ân phước của Ngài, nước phun ra. Ngài nói, “Chú ơi, hãy uống nước này!”

21-Trong cuộc viễn chinh Hudaybiya, họ đã cắm trại bên một cái giếng không có nước. Những người lính phàn nàn về tình trạng thiếu nước. Rasulullah đã yêu cầu một xô nước. Ngài đã thực hiện việc thanh tẩy với nước trong xô rồi nhổ vào đó, và sau đó đổ nước đó vào giếng. Ngài lấy một mũi tên và ném nó vào giếng. Sau đó, họ thấy giếng đầy nước đến tận miệng.

“Này Hafsa! Abu Bakr và cha của nàng sẽ trông coi cộng đồng của ta.”
Hadith
ash-sharif

22- Trong một Thánh chiến, những người lính than rằng họ khát. Rasul ‘alaihis-salam đã cử hai người lính đi tìm nước. Họ nhìn thấy một người phụ nữ trên lưng lạc đà với hai bầu nước đầy. Rasulullah đã yêu cầu người phụ nữ cho họ một ít nước. Ngài đã đổ nó vào một cái bình. Tất cả những người lính lần lượt đổ đầy cốc và bầu nước của họ bằng nước trong bình. Họ đưa cho người phụ nữ một ít quả chà là và đổ đầy bầu nước của bà. Rasulullah nói với bà, “Chúng tôi không lấy bớt nước của bà. Chính Allahu ta'ala đã ban cho chúng tôi nước.”

23- Ngài đang đọc bài thuyêt giảng ở Medina, thì có người nói, “Hỡi Rasulallah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam)! Con cái, gia súc và đồng ruộng của chúng tôi đang chết dần chết mòn vì thiếu nước. Xin hãy đến cứu chúng tôi!” Tiên tri của chúng ta giơ đôi tay ân phước của mình lên và cầu nguyện. Đó là một ngày không mây, nhưng Ngài vừa mới xoa đôi tay ân phước của mình lên mặt thì những đám mây đã tụ lại. Ngay lập tức, trời bắt đầu mưa. Nó tiếp tục trong vài ngày. Ngài đang ở bục giảng đọc bài thuyêt giảng một lần nữa, thì cũng người đó phàn nàn, “Hỡi Rasulallah! Chúng tôi sẽ chết vì cơn mưa này.” Nghe vậy, Rasul ‘alaihis-salam mỉm cười và cầu nguyện, “Hỡi Rabb! Xin Người ban ơn cho những người tôi tớ khác của Người nữa!” Những đám mây tan đi, và mặt trời xuất hiện.

24- Jabir ibn Abdullah (radiy-Allahu ta’ala ‘anh) kể lại: Tôi mắc rất nhiều nợ. Tôi đã kể với Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam) về điều đó. Ngài đến vườn cây ăn quả của tôi và đi vòng quanh đống chà là, đi ba vòng. Sau đó, Ngài nói, “Hãy bảo các chủ nợ của ngươi đến đây.” Mỗi chủ nợ đều được trả số tiền nợ của mình, và đống chà là không hề giảm.

25- Một người phụ nữ gửi quà tặng là một ít mật ong. Rasul ‘alaihis-salam đã nhận mật ong và trả lại chiếc bình rỗng. Nhờ quyền năng của Allahu ta’ala, chiếc bình lại đầy mật ong. Người phụ nữ đến và hỏi, “Hỡi Rasulallah! Tôi có tội gì? Tại sao Ngài không nhận món quà?” Ngài nói, “Chúng tôi đã nhận món quà rồi. Mật ong mà bà thấy là barakat (lộc ân) mà Allahu ta’ala đã ban cho bà để thưởng cho món quà của bà.” Người phụ nữ rất vui và mang mật ong về nhà. Bà và các con đã ăn mật ong ấy trong nhiều tháng ròng . Nó không hề vơi. Một ngày nọ, họ vô tình đổ mật ong vào một chiếc bình khác. Khi họ ăn nó từ chiếc bình đó, mật ong đã sớm không còn. Họ thông tin cho Rasulullah về điều này. Ngài nói, “Nếu mật ong vẫn đẻ trong chiếc bình mà ta đã gửi, họ sẽ ăn nó cho đến khi thế gian còn tồn tại, và nó sẽ không hề vơi.”

26- Abu Hurayra thuật lại: Tôi đã đến gặp Rasulullah với một ít quả chà là và cầu xin Ngài ban phước lành cho chúng. Ngài đã cầu nguyện để chúng có barakat và nói, “Hãy đựng những quả này trong hộp. Bất cứ khi nào ngươi muốn ăn chà là, hãy lấy chúng bằng tay. Đừng bao giờ lật ngược hộp để lấy chúng.” Tôi luôn mang theo bên mình hộp đựng chà là, ngày cũng như đêm, và ăn chúng mọi lúc cho đến thời điểm ‘Uthman (radiy-Allahu 'anh). Tôi đưa những quả chà là đó cho bất kỳ ai đang cùng tôi và chia chúng như trao sadaqa. Vào ngày 'Uthman (radiy-Allahu 'anh) bị tử vì đạo, túi của tôi đã bị mất.

27- Rasulullah (sall-Allahu ta’ala‘alaihi wa-sallam), giống như Suleyman ‘alaihis-salam, hiểu được ngôn ngữ của loài vật. Người ta thường thấy động vật đến và phàn nàn về chủ của chúng hoặc những người khác. Rasulullah sẽ thông báo cho Ashab al-kiram. Trong Thánh chiến Hunayn, Ngài nói với con la trắng tên là Duldul mà Ngài đang cưỡi, “Hãy quỳ xuống.” Khi Duldul ngay lập tức quỳ xuống, Ngài lấy một nắm cát từ mặt đất và tung vào bọn vô tín.

28- Một ngày nọ, Ngài nói với vợ Ngài là Hafsa (radiy-Allahu ‘anha), “Abu Bakr và cha của nàng sẽ cai quản cộng đồng của ta.” Khi nói như vậy, Ngài đã ban tin tốt lành rằng Abu Bakr và cha của Hafsa là ‘Umar (radiy-Allahu ‘anhum) sẽ trở thành Khalifa.

29- Ngài đã chỉ định Abu Hurayra (radiy-Allahu ta’ala‘anh) canh giữ chà là được mang đến như zakat ở Medina. Hadrat Abu Hurayra đã bắt gặp một người ăn cắp chà là. Ông nói với người đó rằng ông sẽ đưa hắn đến gặp Rasulullah. Khi tên trộm nói rằng hắn nghèo và phải nuôi một gia đình đông đúc, ông đã thả hắn đi. Ngày hôm sau, Rasulullah đã cử người đến gặp Abu Hurayra và hỏi ông ta, “Người mà anh thả đi đêm qua đã làm gì?” Khi Abu Hurayra kể lại những gì đã xảy ra, Ngài nói, “Hắn đã lừa dối anh. Hắn sẽ quay lại.” Thật vậy, đêm hôm sau, người đó lại đến và bị bắt. Hắn lại cầu xin, “Vì tình yêu của Allah, hãy thả tôi đi,” và lại được thả. Đêm thứ ba, khi hắn bị bắt, lời cầu xin của hắn đã không còn giá trị. Vì vậy, lần này, hắn nói, “Nếu anh thả tôi đi, tôi sẽ dạy anh một điều sẽ rất hữu ích cho anh.” Khi Abu Hurayra chấp nhận, hắn nói, “Nếu anh đọc Ayat al-kursi trước khi đi ngủ mỗi đêm, Allahu ta'ala sẽ bảo vệ anh, và shaytan sẽ không đến gần anh”, và rời đi. Ngày hôm sau, khi Rasulullah hỏi Abu Hurayra chuyện gì đã xảy ra vào đêm trước, ông đã kể lại mọi chuyện. Về điều này, Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta nói, “Lần này hắn đã nói sự thật. Tuy nhiên, hắn là một kẻ nói dối trắng trợn. Anh có biết mình đã nói chuyện với ai trong ba đêm không?” Khi Abu Hurayra trả lời, “Không, tôi không biết”, Ngài nói, “Người đó là shaytan”.

30- Ngài đã gửi quân đến một vùng gọi là Muta để chiến đấu chống lại quân đội của Hoàng đế Byzantine. Ba chỉ huy (Zayd ibn Haritha, Ja’far ibn Abi Talib, Abdullah ibn Rawaha) của các sahabi đã lần lượt tử vì đạo. Trong khi đó, Rasulullah đang ở bục giảng ở Medina; Ngài đã được Allahu ta’ala cho nhìn thấy và kể lại cho những người đi cùng Ngài.

31- Khi Ngài phái Mu’az ibn Jabal (radiy-Allahu ta’ala ‘anh) đến Yemen làm thống đốc, Ngài đã đưa ông đến vùng ngoại ô của Medina và cho ông rất nhiều lời khuyên. Sau đó, Ngài nói, “Ngươi và Ta không thể gặp lại nhau cho đến khi phán xét.” Mu’az vẫn còn ở Yemen khi Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam) qua đời tại Medina.

“Này Mu’awiya! Một ngày nào đó, nếu ngươi trông coi cộng đồng của ta, hãy ban thưởng cho ai làm việc thiện và tha thứ cho ai làm việc ác!”
Hadith
ash-sharif

32- Khi Ngài sắp qua đời, Ngài đã nói với con gái của mình là Fatima, “Trong số những người thân của ta, con sẽ là người đầu tiên gặp ta.” Sáu tháng sau, Fatima (radiy-Allahu ‘anha) qua đời. Không có người thân nào khác của Tiên tri chúng ta qua đời trước cô.

33- Ngài nói với Qays ibn Shemmas (radiy-Allahu ‘anh), “Ông sẽ có một cuộc sống tươi đẹp và chết như một vị tử đạo.” Qays đã tử vì đạo trong trận chiến chống lại Musaylamah al-Kadhdhab ở Yamama dưới thời caliphate của Abu Bakr (radiy-Allahu ta'ala 'anh).

Ngài cũng báo trước về sự tử vì đạo của Hadrat ‘Umar al-Faruq, Hadrat ‘Uthman và Hadrat Ali (radiy-Allahu ta’ala ‘anhum ajma’in).

34- Ngài đã đưa ra tin tốt lành rằng vùng đất của Shah Khosrow của Ba Tư và Hoàng đế Byzantine sẽ bị người Muslim chinh phục, và kho báu của họ sẽ được chi tiêu và phân phát trên con đường của Allah.

35- Ngài đã báo trước rằng nhiều người từ cộng đồng của Ngài sẽ ra khơi để thực hiện một cuộc hành hương trên biển và rằng người phụ nữ tên là Umm Hiram (radiy-Allahu ta’ala ‘anha), một trong những sahaba, sẽ ở trong cuộc hành hương đó. Trong thời kỳ caliphate của Hadrat ‘Uthman, người Muslim đã đi thuyền đến đảo Síp và chiến đấu. Người phụ nữ đó đã ở cùng họ. Cô đã đạt được sự tử vì đạo ở đó.3

36- Một ngày nọ, Rasul ‘alaihis-salam đang ngồi trên một nơi cao. Ngài quay sang những người đi cùng và nói, “Các người có thấy những gì ta thấy không? Ta thề rằng ta thấy fitna (sự phá hoại, nổi loạn, ác ý) sẽ diễn ra giữa những ngôi nhà của các người và trên đường phố.” Vào những ngày mà ‘Uthman (radiy-Allahu ‘anh) tử vì đạo và sau đó vào thời Yezid, những fitna lớn đã nổ ra ở Medina; máu của nhiều người đã đổ trên đường phố.

37- Một ngày nọ, Ngài báo trước rằng một trong những người vợ của Ngài sẽ nổi loạn chống lại Khalifa. Khi Aisha (radiy-Allahu ta’ala ‘anha) cười trước lời nhận xét này, Ngài nói, “Này Humeyra4! Đừng quên lời này của Ta! Có lẽ ngươi chính là người phụ nữ đó.” Sau đó, Ngài quay sang Ali (radiy-Allahu ‘anha) và nói, “Nếu ngươi có thẩm quyền quyết định về cô ấy, hãy đối xử nhẹ nhàng với cô ấy!” Ba mươi năm sau, Aisha (radiy-Allahu ‘anha) đã chiến đấu chống lại Ali (radiy-Allahu ‘anha) và bị ông ta bắt giữ. Ali (radiy-Allahu ‘anha) đã tỏ lòng tốt và sự tôn trọng với cô và gửi cô từ Basra đến Medina.

38- Ngài nói với Hadrat Mu’awiya (radiy-Allahu ‘anh), “Nếu một ngày nào đó ông cai quản cộng đồng của ta, hãy thưởng cho những người làm việc tốt và tha thứ cho những người làm việc xấu!” Mu’awiya (radiy-Allahu ‘anh) là thống đốc của Damascus trong hai mươi năm dưới thời caliphate của Hadrat ‘Umar và Hadrat ‘Uthman (radiy-Allahu ‘anh), và sau đó ông phục vụ với tư cách là caliphate trong hai mươi năm.

39- Một hôm, Ngài phán, “Mu’awiya sẽ không bao giờ bị đánh bại.” Khi Ali (radiy-Allahu ta’ala ‘anh) nghe về hadith ash-sharif này trong Thánh chiến Siffin, ông nói, “Tôi sẽ không bao giờ chiến đấu chống lại Mu’awiya (radiy-Allahu ‘anh) nếu tôi nghe điều đó trước đây.”

40- Ngài phán với Ammar ibn Yasar (radiy-Allahu ta’ala ‘anh), “Ngươi sẽ bị giết bởi những kẻ nổi loạn, bởi bagis.” Thật vậy, Ammar đã đạt được tử vì đạo khi ông và Ali (radiy-Allahu ‘anh) đang chiến đấu chống lại Mu’awiya (radiy-Allahu ‘anh).

41- Ngài nói về Hasan, cháu trai của Ngài, con của Fatima (radiy-Allahu ta’ala ‘anhuma), “Cháu trai của ta là nguồn khayr (lòng tốt). Allahu ta’ala sẽ biến nó thành lý do cho hòa bình giữa hai đội quân Hồi giáo lớn.” Nhiều năm sau, khi Ngài chuẩn bị chiến đấu chống lại Mu’awiya (radiy-Allahu ‘anh) bằng một đội quân lớn, Ngài đã từ bỏ và trao lại quyền lực hợp pháp cho Mu’awiya (radiy-Allahu ‘anh) để ngăn chặn fitna và đổ máu của người Muslim.

42- Abdullah ibn Zubayr (radiy-Allahu ta’ala ‘anhuma) đã uống máu của Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam) sau khi chích máu. Khi Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta nhìn thấy điều này, Ngài đã nói, “Các bạn có biết những điều mà các bạn sẽ phải chịu đựng từ người khác không? Và họ sẽ phải chịu đựng rất nhiều từ các bạn. Lửa của Địa ngục sẽ không thiêu rụi các bạn.” Khi Abdullah ibn Zubayr tuyên bố caliphate của mình ở Mecca, Abdulmalik ibn Marwan đã cử Hajjaj từ Damascus đến Mecca với một đội quân lớn. Họ đã bắt và giết Abdullah.

43- Một ngày nọ, Ngài nhìn mẹ của Abdullah ibn Abbas và nói, “Bà sẽ có một đứa con trai. Khi nó chào đời hãy mang nó đến cho ta!” Sau đó, khi đứa bé chào đời, họ mang nó đến cho Rasulullah. Ngài đọc adhan và iqamat vào tai nó và đưa nước bọt ân phước của Ngài vào miệng nó. Ngài đặt tên cho nó là Abdullah, trao lại cho mẹ nó và nói, “Hãy mang cha của các Khalifa đi cùng với ngươi!” Khi Hadrat Abbas, cha của đứa trẻ, nghe thấy điều này, ông đã đến gặp Tiên tri của chúng ta và hỏi Ngài. Ngài trả lời, “Đúng, ta đã nói như vậy. Đứa trẻ này là cha của các Khalifa. Trong số họ, sẽ có một người sẽ thực hiện lễ nguyện với Saffah, Mahdi và Isa 'alaihis-salam.” Nhiều Khalifa đã chủ trì Nhà nước Abbasid. Tất cả họ đều là hậu duệ của Abdullah ibn Abbas.

44- Một ngày nọ, Ngài nói, “Nhiều người được gọi là Rafidi sẽ xuất hiện trong cộng đồng của ta. Họ sẽ rời bỏ Islam.”

45- Ngài đã cầu nguyện cho nhiều người trong số Ashab của Ngài; tất cả họ đều được chấp nhận, và những lợi ích của họ đã được nhìn thấy.

“Lạy Rabb! Xin hãy cho người này (Abdullah ibn Abbas) thành một học giả tôn giáo uyên thâm và là người sở hữu hikmat (kiến thức tôn giáo)! Xin hãy ban cho anh ấy kiến ​​thức về Qur’an al-karim!”
Hadith
ash-sharif

Ali (radiy-Allahu ta’ala ‘anh) kể lại: Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam) muốn cử tôi làm qadi (thẩm phán) đến Yemen. Tôi nói, “Hỡi Rasulallah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam)! Tôi không biết cách hành động như một qadi.” Ngài đặt bàn tay ân phước của Ngài lên ngực tôi và cầu nguyện, “Hỡi Rabb! Xin đặt những điều đúng đắn vào trái tim anh ấy. Hãy ban phước cho anh ấy với phẩm chất luôn nói sự thật!” Từ đó trở đi, tôi luôn cảm nhận được người đúng trong số những người khiếu nại đến với tôi, và phán quyết của tôi luôn đúng.

46- Mười người mà Rasulullah đã báo tin vui rằng họ sẽ đến Thiên đàng được gọi là ‘Ashara al-mubash-shara. Sa’d ibn Abi Waqqas (radiy-Allahu ‘anh) là một trong số họ. Trong Thánh chiến Uhud, Tiên tri yêu dấu của chúng ta đã nói “Hỡi Rabb! Xin hãy cho mũi tên của ông ấy trúng đích và chấp nhận lời cầu nguyện của ông ấy!” Từ đó trở đi, mọi lời cầu nguyện của Sa’d đều được chấp nhận, và mọi mũi tên ông bắn đều trúng kẻ thù.

47- Ngài đặt bàn tay ân phước của Ngài lên trán của con trai chú Ngài, Abdullah ibn Abbas, và nói, “Lạy Rabb! Xin hãy cho người này (Abdullah ibn Abbas) thành một học giả tôn giáo uyên thâm và là người sở hữu hikmat (kiến thức tâm linh)! Xin hãy ban cho anh ấy kiến ​​thức về Qur’an al-karim!” Từ đó trở đi, Abdullah ibn Abbas trở nên vô song trong thời đại của mình về mọi khoa học và đặc biệt là về tafsir (hiểu murad al-ilahi - mục đích thiêng liêng - từ các ayat trong Qur'an al-karim), hadith và fiqh. Các Sahaba và Tabi'in đã học mọi thứ từ ông. Ông trở nên nổi tiếng với các tên gọi là ‘Tarjuman al-Qur'an’ (người giải thích Qur'an al-karim), ‘Bahr al-ilm’ (biển kiến ​​thức) và ‘Rais al-mufassirin’ (lãnh đạo của các học giả về tafsir). Các quốc gia Islam tràn ngập học trò của ông.5

48- Đối với Anas ibn Malik (radiy-Allahu ta’ala ‘anh), một trong những người hầu của Ngài, Ngài đã cầu nguyện, “Hỡi Rabb! Xin hãy tha thứ cho tội lỗi của anh ấy và ban cho anh ấy thật nhiều tài sản và con cái, sống thọ!” Theo thời gian, của cải của Anas ibn Malik tăng lên. Vườn cây ăn quả của ông cho rất nhiều trái cây mỗi năm. Ông có rất nhiều con. Ông sống được một trăm mười năm. Vào cuối đời, ông nói, “Hỡi Rabb! Người đã chấp nhận và ban cho ba lời cầu nguyện mà Habib của Người đã dành cho con. Con tự hỏi liệu Người có chấp nhận lời cầu nguyện thứ tư và tha thứ cho tội lỗi của con không?” Một giọng nói vang lên, “Ta cũng đã chấp nhận lời cầu nguyện thứ tư. Để tâm ngươi được yên lòng!”

49- Ngài cầu nguyện cho Malik ibn Rabia (radiy-Allahu ta’ala ‘anh), “Cầu mong ông có nhiều con!” Malik có tám mươi người con trai.

50- Có một nhà thơ nổi tiếng tên là Nabigha. Khi ông đọc một số bài thơ của mình, Rasulullah đã đọc lời cầu nguyện sau đây, được phổ biến rộng rãi trong người Ả Rập, “Cầu xin Allahu ta'ala đừng để răng của ông rụng!” Nabigha đã một trăm tuổi, và hàm răng của ông trắng và trong, thẳng hàng như ngọc trai.

51- Ngài đã cầu nguyện như sau về Urwa ibn Ju’d (radiy-Allahu ta’ala ‘anh), “Hỡi Rabb! Hãy làm cho việc buôn bán của anh ấy sinh lợi!” Urwa nói, “Kể từ đó, tất cả các thương vụ tôi thực hiện đều có lãi. Tôi không bao giờ thua lỗ.”

52- Một hôm, con gái của Ngài là Fatima (radiy-Allahu ta’ala ‘anha) đến gặp Ngài. Cô ấy tái nhợt vì đói. Ngài đặt tay lên ngực cô ấy và cầu nguyện, “Lạy Rabb, Đấng làm cho người đói được no! Xin đừng để Fatima, con gái của Muhammad, đói!” Khuôn mặt của Fatima ngay lập tức trở nên hồng hào, tươi tắn. Cô ấy không còn cảm thấy đói cho đến khi cô ấy chết.

53- Ngài cầu nguyện với lời chúc phúc cho Abdurrahman ibn Awf, một trong những ‘Ashara al-mubash-shara. Tài sản của ông tăng lên rất nhiều đến nỗi nó trở thành huyền thoại.

54- Ngài nói, “Lời cầu nguyện của các nhà tiên tri sẽ được chấp nhận. Trên thế gian mọi tiên tri đều cầu nguyện cho các cộng đồng của mình. Nhưng ta đang cầu nguyện để được cầu thay cho cộng đồng của mình trong ngày phán xét. Insha-Allah, lời cầu nguyện của ta sẽ được chấp nhận. Ta sẽ cầu thay cho tất cả những ai không phải đa thần giáo.”

55- Ngài đến một số làng ở Mecca và cố gắng thuyết phục họ trở thành tín đồ. Họ từ chối. Ngài cầu nguyện cho họ phải chịu đựng gian khổ như nạn đói đã thấy ở Ai Cập vào thời của Tiên tri Yusuf (Joseph ‘alaihis-salatu was-salam). Năm đó có một nạn đói lớn đến nỗi họ phải ăn xác thối.

56- Mặc dù ‘Utayba, con trai của chú của Giáo chủ chúng ta là Abu Lahab, là con rể của Rasulullah (‘alaihis-salatu was-salam), ông ta không chỉ khăng khăng chối bỏ Rasulullah, mà còn rất buồn vì Sarwar (Bậc thầy của các nhà tiên tri, sall-Allahu ‘alaihi wa sallam). Ông ta đã ly dị vợ là Umm Gulthum, con gái phước hạnh của Tiên tri chúng ta. Ông ta đã nói những điều xấu xa. Rasulullah vô cùng buồn bã và cầu nguyện, “Hỡi Rabb! Xin hãy thả một trong những chiếc răng nanh của Người ra để tấn công hắn!” Trong khi ‘Utayba trên đường đến Damascus để giao thương. Một đêm nọ, khi đang ngủ giữa những người bạn đồng hành, một con sư tử đến và ngửi tất cả các thành viên trong nhóm. Khi đến lượt ‘Utayba, nó tóm lấy ông ta và xé xác thành từng mảnh.

57- Một người đang ăn bằng tay trái. Tiên tri của chúng ta nói với anh ta, “Ăn bằng tay phải của anh.” Anh ta nói dối và nói, “Cánh tay phải của tôi không cử động được.” Rasulullah nói, “Cầu mong tay phải của anh sẽ không cử động được nữa.”6 Người đó không thể giơ tay phải lên cho đến khi chết.

58- Rasulullah gửi một lá thư cho Shah Ba Tư Khosrow Parviz, mời ông ta theo Islam. Khosrow đáng khinh đã xé nát lá thư thành từng mảnh và giết chết sứ giả mang nó đến. Khi Rasul 'alaihis-salam nghe thấy điều này, Ngài rất buồn và nói, “Hỡi Rabb! Xin hãy xé nát tài sản của hắn thành từng mảnh như hắn đã xé lá thư của con!” Rasulullah vẫn còn sống khi Khosrow bị chính con trai mình là Siravayh chém bằng dao găm. Và sau đó, trong thời kỳ caliphate của 'Umar (radiy-Allahu ta'ala 'anh), người Muslim đã chinh phục toàn bộ Ba Tư, vì vậy không còn con cháu hay tài sản nào còn sót lại từ Khosrow.

59- Trong khi Rasul ‘alaihis-salam đang đưa ra lời khuyên và thực hiện amr bil ma’ruf và nahy an al-munkar (ra lệnh về các mệnh lệnh của Islam và cấm các điều cấm của Islam) ở chợ, một tên vô lại tên là Haqam ibn As, cha của Marwan đi theo Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam) từ phía sau, chớp mắt chế giễu và làm mặt buồn cười. Khi Rasul ‘alaihis-salam quay lại và thấy bộ dạng xấu xí của hắn, Ngài nói, “Hãy giữ nguyên như cách mà ngươi đã thể hiện!” Khuôn mặt của hắn vẫn như vậy cho đến khi hắn chết.

60- Allahu ta’ala luôn bảo vệ Habib của Ngài khỏi mọi rắc rối. Abu Jahl là kẻ thù lớn nhất của Rasulullah (sallallahu ‘alaihi wa sallam). Một ngày, khi ông ta nhấc một tảng đá lớn để ném vào đầu Ngài, ông ta nhìn thấy hai con rắn trên vai của Rasulullah, tảng đá rơi khỏi tay ông ta và ông ta bỏ chạy.

“Hỡi Vị Tiên tri vinh quang! Allah sẽ bảo vệ Ngài khỏi sự hãm hại của con người.”
Maida: 67

61- Một ngày nọ, Rasulullah đang cầu nguyện bên cạnh Ka’ba al-mu’azzama thì tên khốn Abu Jahl chớp lấy cơ hội và tiến về phía Ngài với một con dao, nhưng ngay lập tức quay lại và bỏ chạy. Sau đó, khi bạn bè hỏi tại sao hắn sợ, hắn giải thích, “Tôi thấy một con mương đầy lửa giữa Muhammad (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam) và tôi. Nhiều người đang đợi tôi. Nếu tôi bước đến, họ sẽ bắt được tôi và ném tôi vào lửa.” Khi những người Muslim nghe về điều đó và hỏi Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam), Ngài nói, “Các thiên thần của Allahu ta’ala sẽ bắt được hắn và xé xác hắn thành từng mảnh.”

62- Vào năm Hegira thứ tư, dưới các bức tường của pháo đài thuộc về người Do Thái ở Bani Nadir, khi Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam) đang nói chuyện với các Ashab, một người Do Thái muốn ném từ trên cao xuống một hòn đá cối xay lớn. Khi hắn với tay lấy hòn đá, cả hai tay hắn đều bị gãy.

63- Vào năm Hegira thứ chín, đám đông người từ xa kéo đến để theo Islam. Hai kẻ ngoại đạo tên là Amir và Arbad trà trộn vào đám đông. Khi Amir đang nói với Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam) rằng họ đã là người Muslim, Arbad lẻn ra sau Rasulullah và cố gắng rút kiếm ra. Tay hắn bị tê liệt. Khi Amir ra hiệu như thể muốn nói, “Tại sao anh lại do dự?” Rasul ‘alaihis-salam nói, “Allahu ta’ala đã bảo vệ ta khỏi sự nguy hiểm của hai ngươi.” Khi họ rời khỏi đó, Amir hỏi Arbad tại sao hắn không giữ lời hứa. Hắn trả lời, “Làm sao tôi có thể? Tôi đã cố gắng rút kiếm nhiều lần. Mỗi lần cố rút kiếm, tôi lại thấy anh ở giữa chúng tôi.” Vài ngày sau, vào một ngày nắng, bầu trời đột nhiên phủ đầy mây, và Arbad cùng con lạc đà của anh ta bị sét đánh và chết.

64- Một ngày nọ, Rasul ‘alaihis-salam thực hiện việc thanh tẩy, đã mang một trong những chiếc mest (giày che phần bàn chân bắt buộc phải rửa trong việc thanh tẩy, không thấm nước), và khi Ngài sắp mang chiếc còn lại, một con chim đã ngậm lấy chiếc mest và lắc nó trong không khí. Một con rắn rơi ra. Thế rồi, con chim thả chiếc mest xuống đất và bay đi. Từ đó, việc lắc giày trước khi mang vào đã trở thành sunnah (những hành động nào Allahu ta’ala ra lệnh nhưng được Vị Tiên tri của chúng ta khuyến khích).

65- Rasul ‘alaihis-salam đã chỉ định lính canh từ Ashab của Ngài để bảo vệ Ngài trong các Thánh chiến và sa mạc. Khi ayat al-karima thứ 67 của Surah al-Maida được mặc khải, bằng maal, “Allah sẽ bảo vệ bạn khỏi sự nguy hiểm của con người,” Ngài đã từ bỏ điều này. Ngài thường đi một mình giữa kẻ thù và ngủ một mình mà không cảm thấy sợ hãi.

66 Hadrat Anas ibn Malik thuật lại: “Rasulullah có một chiếc khăn tay mà Ngài lau mặt. Ngài thường lau mặt bằng nó, và khi nó trở nên bẩn, Ngài cho nó vào lửa. Bụi bẩn sẽ cháy trong khi chiếc khăn tay không cháy mà trở nên sạch sẽ.”

67- Ngài uống nước kéo lên từ giếng bằng một cái xô, uống xong đổ phần nước còn lại vào giếng. Từ đó, giếng luôn có mùi xạ hương.

68- Một căn bệnh gọi là phát ban (mề đay) bùng phát trên cơ thể của ‘Urwa ibn Firqad (radiy-Allahu ‘anh). Rasul ‘alaihis-salam cởi quần áo, nhổ vào đôi bàn tay được ban phước của chính Ngài và xoa bóp cơ thể anh ấy bằng tay của Ngài. Bệnh nhân đã được chữa lành. Cơ thể của anh ấy có mùi xạ hương. Nó lưu hương trong một thời gian dài.

69- Một ngày nọ, Rasul ‘alaihis-salam đang thực hiện lễ nguyện thì shaytan đến và cố gắng phá vỡ lễ nguyện của Ngài. Ngài tóm shaytan bằng đôi tay được ban phước của Ngài và chỉ thả hắn đi sau khi hắn hứa sẽ không phá vỡ lễ nguyện của Ngài.

70- Abdullah ibn Ubayy ibn Salul, thủ lĩnh của munafiq (những kẻ đạo đức giả) ở Medina, được phái đến gặp Rasulullah khi Ngài sắp chết và cầu xin Ngài, “Xin hãy làm cho tôi một tấm vải liệm từ chiếc áo sơ mi mà Ngài đang mặc.” Vì thói quen của Ngài là cho bất cứ thứ gì được yêu cầu, Ngài đã tặng chiếc áo sơ mi của mình cho hắn. Ngài thậm chí còn thực hiện janaza namaz của mình sau khi chết. Ngưỡng mộ sự hào phóng này của Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam), một ngàn munafiq ở Medina đã theo Islam.

71- Trong số những kẻ vô tín của Quraysh, Walid ibn Mugira, As ibn Wail, Harith ibn Qays, Aswad ibn Yaghus và Aswad ibn Muttalib đã đi xa hơn những người khác trong việc ngược đãi và hành hạ Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam). Jabrail ‘alaihis-salam đến và mang theo câu thứ 95 của Surah al-Hijr, bằng maal, “Ta sẽ trừng phạt những kẻ chế giễu Ngài…” và chỉ vào chân của Walid, gót chân của người thứ hai, mũi của người thứ ba, đầu của người thứ tư và mắt của người thứ năm. Một mũi tên đã xuyên qua chân của Walid. Là một người cực kỳ tự cao, hắn đã không cúi xuống thấp để rút mũi tên ra. Phần kim loại của mũi tên xuyên qua mắt cá chân và gây ra chứng thần kinh tọa. Người thứ hai đạp phải gai sắc nhọn, đâm sâu vào gót chân của hắn và khiến nó sưng lên như một cái túi. Mũi của Harith liên tục chảy máu. Aswad đang ngồi vui vẻ thì đập đầu vào cây, còn Aswad kia thì bỗng dưng bị mù, và tất cả đều chết.

72- Có một người phụ nữ xinh đẹp trong bộ tộc Bani Nejjar ở Medina. Một jinni đã yêu cô ấy và đến với cô ấy mọi lúc. Một ngày nọ, sau khi Rasul 'alaihis-salam di cư đến Medina, jinni đang ngồi trên bức tường trước nhà của người phụ nữ khi người phụ nữ nhìn thấy anh ta và hỏi, “Tại sao anh không đến thăm tôi nữa?” jinni trả lời, “Vị tiên tri của Allahu ta'ala (sall-Allahu ta'ala 'alaihi wa sallam) đã cấm tà dâm (zina) và mọi hành vi haram.”

73- Trong Thánh chiến được gọi là Bi’r Mauna, những kẻ vô đức tin đã nuốt lời hứa và giết chết bảy mươi Sahaba, chỉ trừ một hoặc hai người. Trong số đó có Amir ibn Fuhayra (radiy-Allahu ta’ala ‘anh), một trong những người tin đạo đầu tiên và là một cựu nô lệ được Abu Bakr giải phóng (radiy-Allahu ta’ala ‘anh). Khi Amir ibn Fuhayra (radiy-Allahu ta’ala ‘anh) bị đâm chết bằng lưỡi lê, các thiên thần đã đưa ông lên trời trước mắt những kẻ vô đức tin. Khi họ báo cáo sự kiện này với Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam), Ngài nói, “Các thiên thần của Thiên đàng đã chôn cất ông, và linh hồn ông được đưa lên Thiên đàng.”

74- Sa’d ibn Mu’az (radiy-Allahu ta’ala ‘anh) bị thương ở Thánh chiến Uhud và đã đạt sự tử đạo không lâu sau đó. Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam) thông báo rằng bảy mươi ngàn thiên thần đã tham dự lễ cầu nguyện janaza namaz của ông. Khi ngôi mộ của ông đang được đào, mùi xạ hương lan tỏa khắp mọi nơi.

75- Một sahabi tên là Sefina, người được giải thoát bởi Umm Salama (radiy-Allahu ta’ala ‘anha), một trong những người vợ của Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam), sẽ không bao giờ chểnh mảng trong việc phục vụ Rasulullah. Trong một cuộc chiến chống lại quân đội Byzantine, ông đã bị tách khỏi quân đội và bị những kẻ vô tín bắt giữ. Bằng cách nào đó, ông đã trốn thoát và đang trên đường trở về nhà thì một con sư tử đáng sợ xuất hiện trước mặt ông. Ông nói, “Ta là người hầu của Rasulullah,” và kể cho sư tử nghe mọi điều ông đã trải qua. Sư tử dụi mặt và mắt vào ông và bắt đầu đi cùng ông. Nó đi sát ông để kẻ thù không làm hại ông. Khi quân lính Muslim xuất hiện, sư tử quay lại và bỏ đi.

76- Một người tên là Jehjah al-Ghaffari đã nổi loạn chống lại Khalifa ‘Uthman (radiy-Allahu ta’ala ‘anh). Ông ta đã dùng đầu gối bẻ gãy cây gậy mà Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam) luôn cầm trên tay. Một năm sau, một căn bệnh gọi là bệnh than xuất hiện trên đầu gối của ông và khiến ông qua đời.

77- Mu’awiya (radiy-Allahu ta’ala ‘anh) đến từ Damascus để hành hương và muốn mang bục giảng của Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam) ở Medina cùng ông về Damascus để hưởng lợi từ những phước lành của nó. Khi họ di chuyển bục giảng, mặt trời bị che khuất. Trời tối đen khắp nơi, đến nỗi các vì sao xuất hiện trên bầu trời. Ông từ bỏ mong muốn đó.

78- Tại Thánh chiến Uhud, một trong những con mắt của Abu Katada đã rơi ra khỏi hốc mắt và rơi xuống má của ông. Họ đưa ông đến gặp Rasulullah (sall-Allahu ta’ala ‘alaihi wa sallam). Với bàn tay ân phước của mình, Ngài đặt con mắt trở lại hốc mắt và cầu nguyện, “Hỡi Rabb! Hãy làm cho mắt của anh ấy trở nên đẹp đẽ!” Con mắt này của Abu Katada đẹp hơn con mắt kia, và thị lực của nó tốt hơn con mắt kia. Một hôm, một trong những cháu trai của Abu Katada có mặt trước Khalifa ‘Umar ibn Abdul’aziz. Khi Khalifa hỏi anh ta là ai, anh ta đã đọc một câu đối nói rằng anh ta là cháu trai của người mà Rasulullah đã thay thế con mắt bằng bàn tay ban phước của Ngài. Khi Khalifa nghe câu đối, ông đã đối xử với anh ta bằng sự tôn trọng và lòng bao dung.

79- Iyas ibn Salama kể lại: Trong Thánh chiến Khaybar, Rasulullah đã sai tôi đi tìm Ali (radiy-Allahu ‘anh). Mắt của Ali bị đau. Tôi nắm tay anh ấy và khó khăn lắm mới kéo được anh ấy ra. Rasulullah nhổ vào những ngón tay ân phước của Ngài và nhẹ nhàng xoa chúng vào mắt Ali. Ngài trao cho anh ấy lá cờ (Islam) và cử anh ấy ra chiến đấu trước cổng Khaybar. Ali (radiy-Allahu ‘anh) kéo cánh cửa, vốn không thể mở được trong một thời gian dài, ra khỏi bản lề, và Ashab al-kiram tiến vào pháo đài.

80- Một ngày nọ, Giáo chủ Rasulullah của chúng ta đến thăm nhà của con gái Ngài là Hadrat Fatima và hỏi thăm tình hình của họ. Hadrat Fatima trả lời, “Cha ơi! Các con trai của con và con đã không ăn hoặc uống bất cứ thứ gì trong ba ngày. Chúng con chịu đói. Con thì không quan trọng. Thế nhưng, tình hình của Hasan và Husayn khiến con rất buồn.”

Khi nghe vậy, Giáo chủ Sarwar al-alam của chúng ta đã nói, “Hỡi Fatima! Con gái yêu của ta! Con đã đói ba ngày còn ta cũng đã đói bốn ngày rồi.” Ngài rất buồn khi thấy hai người cháu trai ân phước của Ngài là Hadrat Hasan và Hadrat Husayn lại đói…

81- Hadrat Ali bắt đầu làm việc và kiếm tiền để nuôi những đứa con ân phước của mình. Khi ông ra khỏi Medina, ông thấy một người dân quê đang cố gắng cho lạc đà uống nước bên một cái giếng.

Hadrat Ali đến gần ông và hỏi, “Hỡi người Ả Rập! Ông có cần ai đó cho lạc đà uống nước với một khoản phí không?” Người dân quê trả lời, “Vâng, tôi đã tìm kiếm một người như vậy. Nếu ông muốn, hãy đến và cho lạc đà của tôi uống nước! Tôi sẽ trả cho ông ba quả chà là cho mỗi xô nước mà ông múc được.”

Hadrat Ali chấp nhận và bắt đầu múc nước. Khi ông đã lấy được chín xô nước, dây của xô đột nhiên đứt và xô vẫn nằm trong giếng. Thấy vậy, người dân quê tức giận đứng dậy và không may tát vào mặt Hadrat Ali.

Sau đó, ông ta đưa hai mươi bốn quả chà là để đổi lấy tám xô nước. Hadrat Ali rất buồn vì điều này, và ông với tay xuống giếng. Ông lấy xô lên, đặt cạnh giếng và rời đi.

Người dân quê đã bị sốc! Làm sao cánh tay của ông ta có thể chạm tới đáy giếng sâu như vậy?! Người đó có thuộc về tôn giáo được cho là sẽ đến không? Người đã kinh ngạc trước những suy nghĩ này, đã nói, “Vị tiên tri của ông ta là một nhà tiên tri thực sự. Tôi đã tin!”

Ông ta hối hận vì đã phạm phải một tội lỗi nghiêm trọng như vậy. Ông ta tự nhủ, “Những bàn tay chống lại một người như vậy phải bị chặt đứt, xương của chúng phải bị bẻ gãy.” Ông ta lấy kiếm và chém vào cổ tay mình. Ông ta chặt đứt bàn tay mình.

Ông cảm thấy đau đớn vô cùng, nhưng giờ đây lòng ông đã thanh thản. Ông cầm lấy bàn tay cụt của mình và đi thẳng đến Masjid an-Nabi. Ông hỏi Ashab al-kiram rằng Vị tiên tri của họ ở đâu. Họ nói với ông rằng Ngài đã đến nhà con gái của Ngài. Ông biết được vị trí ngôi nhà của Hadrat Fatima và đến đó.

Vào lúc đó, Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đã để hai cháu trai của Ngài là Hadrat Hasan và Hadrat Husayn ngồi trên đùi Ngài và cho chúng ăn những quả chà là được mang đến.

Khi người dân làng nghĩ về mức độ nghiêm trọng của sai lầm mà mình đã mắc phải, ông cảm thấy như mình sắp phát điên và nước mắt chảy dài từ đôi mắt ông như suối.

Trong trạng thái này, ông đến nhà Hadrat Fatima và gõ cửa. Vị Chủ Tể của các thế giới bước ra khỏi ngôi nhà như mặt trời, tỏa ra ánh sáng. Ngay khi người dân làng nhìn thấy Vị Chủ Tể của chúng ta, ông đã cầu xin, “Tôi tin rằng ngài là Rasul của Allah! Tôi hối hận về những gì tôi đã làm. Xin hãy tha thứ cho tôi, hỡi Rasulallah!”

Khi Vị Tiên tri kính yêu của chúng ta hỏi, “Tại sao ngươi lại chặt tay mình?”, người ấy trả lời, “Bởi vì tôi cảm thấy xấu hổ khi bàn tay này đập vào khuôn mặt ân phước của người tin vào Ngài! Cầu mong mạng sống của tôi được hy sinh vì Ngài, hỡi Rasulullah!”

Vị Tiên tri kính yêu của chúng ta, đại dương của lòng thương xót, đã lấy bàn tay bị cắt đứt của người dân quê. Nói rằng, “Bismillahirrahmanirrahim”, Ngài đặt nó vào cổ tay đang chảy máu của người dân quê. Với sự cho phép của Allahu ta'ala, như một phép lạ của Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta, bàn tay đã trở lại trạng thái trước đó. Allahu ta'ala là toàn lực; Người là Đấng Toàn năng.